Huỳnh Thị Hà Như * , Nguyễn Hữu Phúc , Bùi Thị Trà My và Vũ Thị Yến Nhi

* Người chịu trách nhiệm về bài viết: (hthnhu@dhsphue.edu.vn)

Abstract

Following the 1962 coup, the Ne Win government established a military state model aimed at consolidating political power, safeguarding national sovereignty, and maintaining territorial integrity. Myanmar's security and defense policy during this period focused on expanding the military's role in political life, strengthening control over ethnic separatist movements, and pursuing a neutral and isolationist foreign policy to limit external interference. This article examines Myanmar's security and defense policy under Ne Win from 1962 to 1988 within the context of complex political developments and ethnic conflicts. It also analyzes the impacts of these policies on Myanmar's political, economic, and social conditions, thereby highlighting the military's dominant role in shaping the country's post-colonial development trajectory.
Keywords: Myanmar, Ne Win, Security and defense policies, Military

Tóm tắt

Sau cuộc đảo chính năm 1962, chính quyền Ne Win tiến hành xây dựng mô hình nhà nước quân sự với mục tiêu củng cố quyền lực, bảo vệ chủ quyền quốc gia và duy trì sự thống nhất lãnh thổ. Chính sách an ninh – quốc phòng của Miến Điện thời kỳ 1962-1988 tập trung vào việc mở rộng vai trò của quân đội trong đời sống chính trị, tăng cường kiểm soát các phong trào ly khai sắc tộc, đồng thời thực hiện đường lối đối ngoại trung lập và khép kín nhằm hạn chế sự can thiệp từ bên ngoài. Bài viết đi sâu phân tích chính sách an ninh – quốc phòng của Miến Điện dưới thời Ne Win, giai đoạn 1962-1988 trong bối cảnh tình hình chính trị và sắc tộc diễn biến phức tạp. Đồng thời, bài viết cũng làm rõ những tác động của chính sách này đối với tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Myanmar, qua đó cho thấy vai trò chi phối của quân đội trong tiến trình phát triển đất nước giai đoạn hậu thuộc địa.
Từ khóa: Myanmar, Ne Win, Chính sách an ninh – quốc phòng, Quân đội

Article Details

Tài liệu tham khảo

Anh, L. V., & Hoa, H. T. M. (2016). Quan hệ quốc tế thời hiện đại. Nhà xuất bản Đại học Huế.

Aktar, T. (2023). Military politics in Myanmar: History of rising power, influence and control. Asian Profile, 51(4), 301–311.

Bunte, M. (2014). Burma’s transition to quasi-military rule: From rulers to guardians? Armed Forces & Society, 40(4), 742–764.

Devi, K. S. (2014). Myanmar under the military rule 1962–1988. International Research Journal of Social Sciences, 3(10), 46–50.

Đức, L. T. Q. (2020). Hỗ trợ của Ấn Độ đối với công cuộc củng cố độc lập dân tộc của Miến Điện. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, (5), 104–114.

Liang, C. S. (1990). Burma’s foreign relations: Neutralism in theory and practice. Praeger Publishers.

Marie-Eve Reny, M. E. (2022). Military rule with a weak army: Myanmar’s late expansion. The Journal of Burma Studies, 26(1), 69–93.

Mehden, F. R. (1963). The Burmese way to socialism. Asian Survey, 3(3), 129–135.

Myat, S. S. (2021). Explaining Myanmar’s policy of non-alignment: An analytic eclecticism approach. Journal of Current Southeast Asian Affairs, 40(3), 379–399.

Myint, Z. N. (2019). Pyidawtha programme (1952–1960). Yangon University of Distance Education Research Journal, 10(1), 60–69.

Ninh, L. (2018). Đông Nam Á: Lịch sử từ nguyên thủy đến ngày nay. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

Phùng, C. C. (Chủ biên). (2011). Mianma – Lịch sử và hiện tại. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.

Stein, P. (2016). The role of the military in Myanmar’s political economy [Luận văn thạc sĩ, Naval Postgraduate School].

Steinberg, D. I. (2021). The military in Burma/Myanmar: On the longevity of Tatmadaw rule and influence (Issue 6). ISEAS – Yusof Ishak Institute.

Thái, N. D. (2017). Sự hình thành chính quyền quân sự của Thủ tướng Ne Win và những bất ổn chính trị ở Miến Điện giai đoạn 1962–1988. Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, (10), 57–64.

Topich, W. J., & Leitich, K. A. (2013). The history of Myanmar. Bloomsbury Academic.

Yi, H. (2014). The political role of the military in Myanmar. Ritsumeikan Center for Asia Pacific Studies, Ritsumeikan Asia Pacific University, 1–27.