Thiết kế “Bản đồ kể chuyện số” từ truyền thuyết Chùa Thiên Mụ cho học sinh lớp 5

Nguyễn Thị Hồng Ánh*, Trần Thị Ngọc Châu
Tóm tắt
Bài viết thiết kế hoạt động “Bản đồ kể chuyện số” từ truyền thuyết Chùa Thiên Mụ nhằm hỗ trợ đọc hiểu và khơi gợi thái độ trân trọng di sản ở học sinh lớp 5. Quy trình thiết kế và tổ chức 5C gồm Chọn lọc, Chuyển hóa, Công nghệ hóa, Cộng tác và Chiêm nghiệm, kết nối việc chuẩn bị ngữ liệu của giáo viên với nhiệm vụ đọc, kể, định vị và phản hồi của học sinh. Ngữ liệu được xác định là bản biên soạn cho thiếu nhi, có chú thích nguồn kể và hướng dẫn phân biệt chi tiết truyền thuyết với thông tin lịch sử. Thử nghiệm tại một lớp gồm 36 học sinh ở Huế được tổ chức trong ba tiết, sử dụng thiết kế một nhóm đo trước–sau. Điểm đọc hiểu trung bình tăng từ 6,21 lên 8,72 trên thang 10; điểm tự báo cáo của ba cụm chỉ báo thái độ cũng tăng. Bài viết phân tích thêm cấu trúc phiếu học tập và sản phẩm minh họa để làm rõ yêu cầu tiếp nhận di sản. Kết quả gợi ý tính khả thi của hoạt động và xu hướng cải thiện trong lớp được khảo sát; việc xác định hiệu quả cần được kiểm chứng bằng thiết kế có nhóm so sánh.

Sự gắn kết của người học và kết quả nói tiếng Anh của học viên tiếng Anh như ngoại ngữ tại một trung tâm ngoại ngữ ở Việt Nam

Lưu Đạt Phi*
Tóm tắt
Một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự gắn kết của học sinh và thành tích ngoại ngữ đã được thực hiện trong các bối cảnh tiếng Anh là ngoại ngữ dưới các khía cạnh hành vi, cảm xúc, nhận thức và tính chủ động (Đinh-sơ và cộng sự, 2017; Trinh và Conner, 2019; Lưu và cộng sự, 2023). Dù vậy, ít nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa bốn chiều cạnh này với kết quả nhiệm vụ nói của người học. Nghiên cứu cắt ngang này được thực hiện nhằm khảo sát mối quan hệ giữa sự gắn kết đa chiều và điểm kiểm tra nói trên 96 học sinh tiếng Anh nhỏ tuổi tại một trung tâm ngoại ngữ tư thục ở Việt Nam. Dữ liệu thu thập thông qua bảng hỏi sự gắn kết miệng ngữ gồm 12 mục và bài kiểm tra nói do hai giám khảo đánh giá. Kiểm định t và hồi quy tuyến tính bội được sử dụng để phân tích dữ liệu. Thống kê mô tả cho thấy mức độ gắn kết ở mức cao, với nhận thức đạt điểm trung bình cao nhất. Nữ giới có mức độ gắn kết về hành vi, cảm xúc và tính chủ động cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nam giới. Kết quả hồi quy cho thấy sự gắn kết cảm xúc và nhận thức có tương quan với điểm kiểm tra nói, trong khi hành vi và tính chủ động không là biến dự báo có ý nghĩa. Do thiết kế nghiên cứu cắt ngang, kết quả phản ánh mối liên hệ thống kê thay vì nhân quả. Phát hiện này gợi ý rằng việc giảng dạy kỹ năng nói tại các cơ sở ngoại ngữ tư thục có liên quan đến sự gắn kết cảm xúc và nhận thức của học sinh, đồng thời không phải mọi chiều cạnh gắn kết đều có mức độ đóng góp tương đương đối với kỹ năng nói.

Đề xuất biện pháp giáo dục di sản văn hóa cho học sinh tiểu học theo tiếp cận trải nghiệm: Nghiên cứu tại thành phố Huế

Nguyễn Thanh Bình*
Tóm tắt
Giáo dục di sản văn hóa theo tiếp cận trải nghiệm tạo điều kiện để học sinh tiểu học quan sát, khám phá, thực hành, chia sẻ, khái quát hóa và vận dụng kiến thức vào tình huống phù hợp. Bài báo nhằm đề xuất các biện pháp giáo dục di sản văn hóa cho học sinh tiểu học theo tiếp cận trải nghiệm trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa tài liệu và điều tra bằng bảng hỏi đối với 279 giáo viên, 986 học sinh lớp 4 và lớp 5 tại 22 trường tiểu học ở thành phố Huế; dữ liệu khảo sát được xử lý bằng thống kê mô tả. Kết quả cho thấy giáo dục di sản văn hóa đã được triển khai qua môn học và hoạt động giáo dục, nhưng mức độ thực hiện chưa đồng đều; cơ hội trải nghiệm của học sinh chưa đa dạng; môi trường số, phương pháp dự án và câu lạc bộ về di sản văn hóa chưa được khai thác thường xuyên. Từ các căn cứ lý luận và thực tiễn, bài báo đề xuất các biện pháp giáo dục di sản văn hóa cho học sinh tiểu học theo tiếp cận trải nghiệm. Các biện pháp hỗ trợ lẫn nhau và có thể được lựa chọn, phối hợp, điều chỉnh phù hợp với điều kiện nhà trường, địa phương.

Mối quan hệ giữa học tập hợp tác và đồng cảm ở sinh viên Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế

Trần Nguyên Cát Tiên*
Tóm tắt
Học tập hợp tác và đồng cảm là những năng lực xã hội - cảm xúc cốt lõi, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng tương tác và hiệu quả đào tạo ở bậc đại học. Trong đó, môi trường học tập hợp tác được xem là bối cảnh thực tiễn thuận lợi để thúc đẩy sự thấu cảm, đồng thời sự đồng cảm cũng là yếu tố nền tảng giúp duy trì các tương tác nhóm tích cực và bền vững. Nghiên cứu này nhằm khảo sát thực trạng và phân tích mối quan hệ giữa học tập hợp tác và đồng cảm ở sinh viên. Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 247 sinh viên hệ chính quy đang theo học tại Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế. Dữ liệu được thu thập thông qua Bảng hỏi Học tập hợp tác (CLQ) của Fernandez-Rio và cộng sự (2017) và Thang đo Đồng cảm Cơ bản dành cho người lớn (BES-A) của Carré và cộng sự (2013). Kết quả cho thấy mức độ học tập hợp tác của sinh viên đạt mức cao (ĐTB = 4,33), trong đó tinh thần trách nhiệm cá nhân là thành tố nổi trội nhất. Về năng lực đồng cảm, sinh viên có mức độ đồng cảm nhận thức cao hơn so với đồng cảm cảm xúc. Phân tích tương quan và hồi quy chỉ ra rằng học tập hợp tác có mối liên hệ thuận chiều và là yếu tố dự báo có ý nghĩa đối với đồng cảm cảm xúc cũng như khả năng ngắt kết nối cảm xúc. Cụ thể, sinh viên có ý thức trách nhiệm cá nhân trong nhóm càng cao thì mức độ đồng cảm cảm xúc càng lớn. Kết quả nghiên cứu khẳng định vai trò của học tập hợp tác như một môi trường thiết yếu giúp nuôi dưỡng sự rung cảm và gắn kết tâm lý. Nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học vững chắc cho việc thiết kế các biện pháp sư phạm nhằm nâng cao hiệu quả làm việc nhóm và phát triển toàn diện năng lực đồng cảm cho sinh viên sư phạm.

Về cấu trúc hình học của tập hữu hạn điểm trong P^2

Phạm Trúc Lâm*, Trần Thị Anh Phương
Tóm tắt
Với X là một tập hữu hạn gồm s điểm phân biệt trong không gian xạ ảnh P^n, chúng tôi quan tâm đến việc nghiên cứu tính đều của tập điểm đó. Khi n=2 và X là (i,j)-đều, chúng tôi thiết lập một điều kiện đủ để X nằm trên một đường cong có bậc không vượt quá 2.

Đặc điểm tăng trưởng chiều dài - khối lượng và hệ số trạng thái của loài Glyptothorax hainanensis tại Khu bảo tồn thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong, Quảng Trị

Nguyễn Thảo Nguyên, Nguyễn Hoàng Nhật Minh, Nguyễn Thị Hiền, Võ Quốc Vũ, Nguyễn Thị Diễm Quỳnh, Trần Văn Giang, Lê Hoàng Duy Minh*
Tóm tắt
Nghiên cứu này đánh giá cấu trúc kích thước, mô hình tương quan chiều dài - khối lượng (LWR) và biến động thể trạng của loài cá bám đá Glyptothorax hainanensis tại Khu bảo tồn thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong, Quảng Trị. Tổng số 34 cá thể thu thập được phân chia thành 2 nhóm kích thước: Nhóm 1 (6,0 - 8,0 cm; n = 19) và Nhóm 2 (8,0 - 10,0 cm; n = 15). Kết quả phân tích LWR khẳng định loài G. hainanensis thuộc cả hai nhóm đều tuân theo quy luật tăng trưởng đẳng hình (b = 3,0; p > 0,05). Tuy nhiên, có sự phân hóa rõ rệt về tích lũy năng lượng theo giai đoạn phát triển: Nhóm cá nhỏ có mô hình tăng trưởng đồng đều và tập trung (), trong khi nhóm cá lớn có xu hướng kéo dài thân và dữ liệu phân tán rộng (). Ngược lại, hệ số trạng thái tương đối (K) duy trì sự ổn định bền vững giữa hai nhóm kích thước với giá trị trung bình tiệm cận mức chuẩn 1,0 (Nhóm 1: 1,004; Nhóm 2: 0,998; p > 0,05), phản ánh tình trạng sinh lý tối ưu của quần thể, vốn thường gắn liền với các sinh cảnh thượng nguồn giàu nguồn lợi và ổn định. Phân tích ma trận tương quan cặp đã cho thấy tính độc lập tuyến tính giữa hệ số (K) và chiều dài tổng (r = -0,007; p > 0,05). Đồng thời, mối tương quan cặp K - W đạt ý nghĩa thống kê ở nhóm cá nhỏ (*r = 0,467) nhưng không ý nghĩa ở nhóm cá lớn (r = 0,507; p > 0,05), điều này có thể được giải thích do sự chi phối của các yếu tố sinh lý (như sự thành thục sinh dục) ở pha trưởng thành. Nghiên cứu cung cấp dữ liệu định lượng nền tảng quan trọng cho lý thuyết Ngư học về cá bản địa, đồng thời là cơ sở khoa học hỗ trợ giám sát chất lượng sinh cảnh thủy vực vùng Bắc Trung Bộ.

Chiến tranh hóa học tại Việt Nam (1961-1971): Những hệ lụy môi trường và thách thức đối với sức khỏe cộng đồng

Trương Thị Phương*
Tóm tắt
Chiến tranh hóa học do Hoa Kỳ tiến hành tại miền Nam Việt Nam (1961–1971) là một trong những chiến dịch sử dụng chất độc hóa học có quy mô và thời gian kéo dài nhất trong lịch sử chiến tranh hiện đại. Trên cơ sở tổng hợp các nguồn tư liệu lịch sử, bài viết chỉ ra những tác động sâu rộng của chiến tranh hóa học đối với hệ sinh thái rừng nhiệt đới, tài nguyên đất, nguồn nước và đa dạng sinh học ở miền Nam Việt Nam, để lại những hệ lụy môi trường kéo dài nhiều thập niên sau chiến tranh. Đồng thời, bài viết phân tích những hậu quả lâu dài của Dioxin đối với sức khỏe con người, bao gồm các bệnh mạn tính, rối loạn sinh sản, dị tật bẩm sinh và di chứng di truyền qua nhiều thế hệ. Qua đó, khẳng định hậu quả của chiến tranh hóa học không chỉ là vấn đề lịch sử mà còn là thách thức lâu dài về y tế, môi trường và nhân đạo, đòi hỏi sự phối hợp bền vững giữa nghiên cứu khoa học, chính sách và hợp tác quốc tế trong công tác khắc phục hậu quả.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và sự vận dụng vào xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam hiện nay

Dương Văn Anh Dũng*
Tóm tắt
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục bao gồm các quan điểm toàn diện về giáo dục cho mọi người, học tập suốt đời, tự học, học đi đôi với hành, cùng sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Trong bối cảnh chiến lược phát triển con người, nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với chuyển đổi số hiện nay, việc xây dựng xã hội học tập đã trở thành yêu cầu cấp thiết. Để hiện thực hóa mục tiêu này, việc nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trên cơ sở đánh giá thực trạng xây dựng xã hội học tập thời gian qua, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức về học tập suốt đời, phát triển hệ sinh thái học tập số, thúc đẩy tự học, gắn kết lý luận với thực tiễn, đồng thời phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội nhằm bảo đảm vững chắc quyền học tập cho mọi công dân.

Phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trong phát triển du lịch xanh: Nghiên cứu trường hợp tỉnh Quảng Trị

Phạm Thị Lệ Dung*, Nguyễn Hạnh Nguyên
Tóm tắt
Trong bối cảnh phát triển du lịch xanh trở thành xu hướng nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, di sản văn hóa phi vật thể được xem là nguồn lực quan trọng để nâng cao bản sắc và sức cạnh tranh của điểm đến. Tỉnh Quảng Trị sở hữu hệ thống di sản văn hóa phi vật thể phong phú, tuy nhiên việc khai thác các giá trị này vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu nhằm phân tích thực trạng bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trong phát triển du lịch xanh tại tỉnh Quảng Trị và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả gắn kết giữa bảo tồn di sản với phát triển du lịch bền vững. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, nghiên cứu trường hợp dựa trên các báo cáo về văn hóa và du lịch của địa phương. Kết quả cho thấy Quảng Trị đã đạt nhiều kết quả tích cực trong bảo tồn di sản, phát huy vai trò của cộng đồng và nghệ nhân, đồng thời bước đầu hình thành các sản phẩm du lịch văn hóa gắn với phát triển xanh. Tuy nhiên, sự liên kết giữa bảo tồn di sản và phát triển du lịch còn thiếu đồng bộ. Nghiên cứu góp phần bổ sung cơ sở khoa học và đề xuất hàm ý chính sách nhằm phát huy hiệu quả di sản văn hóa phi vật thể.

Sức khỏe tâm thần của học sinh Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật số 2

Lê Thị Lan*
Tóm tắt
Sức khỏe tâm thần của học sinh trường nghề là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập, rèn luyện và định hướng nghề nghiệp. Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng sức khỏe tâm thần của học sinh Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật số 2 theo mô hình sức khỏe tâm thần hai chiều. Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi với 199 học sinh, với hai công cụ khảo sát là Bảng hỏi về điểm mạnh và khó khăn (SDQ-25) và Thang đo cảm nhận hạnh phúc ở trường học (PERMA). Kết quả nghiên cứu cho thấy học sinh có mức sức khỏe tâm thần tương đối tích cực, thể hiện ở mức cảm nhận hạnh phúc ở trường học khá cao và các biểu hiện khó khăn tâm lý nhìn chung ở mức thấp. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận học sinh gặp khó khăn về cảm xúc, hành vi và quan hệ bạn bè. Kết quả nghiên cứu là cơ sở thực tiễn góp phần xây dựng các hoạt động tư vấn tâm lý và phát triển môi trường học đường hạnh phúc nhằm nâng cao sức khỏe tâm thần cho học sinh trường nghề.  

Mối quan hệ của khả năng phục hồi tâm lý với trầm cảm và lo âu ở người bệnh mạn tính cao tuổi - Nghiên cứu cắt ngang tại Bệnh viện Đa khoa Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

Trần Phan Diệu Anh*, Nguyễn Phước Cát Tường
Tóm tắt
TÓM TẮT Trầm cảm và lo âu là hai vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến ở người cao tuổi mắc bệnh mạn tính, ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống, khả năng thích ứng và hiệu quả điều trị bệnh lý nền. Trong khi đó, khả năng phục hồi tâm lý được xem là một yếu tố bảo vệ quan trọng giúp cá nhân thích ứng với những khó khăn và thách thức do bệnh tật gây ra. Nghiên cứu này nhằm khảo sát mối liên hệ giữa khả năng phục hồi tâm lý với trầm cảm và lo âu ở người bệnh mạn tính cao tuổi. Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 270 người bệnh từ 60 tuổi trở lên đang điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu được thu thập bằng Thang đo Lo âu và Trầm cảm Bệnh viện (Hospital Anxiety and Depression Scale – HADS) của Zigmond và Snaith (1983) và Thang đo Phục hồi tâm lý dành cho người cao tuổi (Resilience Scale for Older Adults – RSOA) của Wilson và cộng sự (2022). Kết quả cho thấy 27,4% người bệnh có dấu hiệu trầm cảm và 28,9% có dấu hiệu lo âu ở các mức độ khác nhau. Khả năng phục hồi tâm lý có mối liên hệ nghịch có ý nghĩa thống kê với cả trầm cảm và lo âu, đồng thời là yếu tố dự báo có ý nghĩa đối với hai vấn đề sức khỏe tâm thần này. Những người có mức độ phục hồi tâm lý cao hơn có xu hướng trải nghiệm ít triệu chứng trầm cảm và lo âu hơn. Kết quả nghiên cứu khẳng định vai trò của khả năng phục hồi tâm lý như một yếu tố bảo vệ quan trọng đối với sức khỏe tâm thần ở người cao tuổi mắc bệnh mạn tính. Nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc tích hợp các hoạt động sàng lọc sức khỏe tâm thần, hỗ trợ tâm lý và nâng cao khả năng phục hồi tâm lý trong chăm sóc toàn diện người bệnh cao tuổi mắc bệnh mạn tính. Từ khóa: Trầm cảm, lo âu, khả năng phục hồi tâm lý, người cao tuổi, bệnh mạn tính, Bệnh viện Đa khoa Thủ Đức.

Việc sử dụng các công cụ có sự hỗ trợ của AI trong đọc hiểu học thuật của sinh viên đại học học tiếng anh như một ngoại ngữ

Lê Nguyễn Tú Trinh*, Lê Phạm Hoài Hương, Lê Thị Minh Trang
Tóm tắt
Nghiên cứu này khảo sát việc sinh viên học tiếng Anh như một ngoại ngữ (EFL) sử dụng các công cụ dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI) trong đọc hiểu học thuật, dựa trên việc vận dụng Mô hình Thống nhất về Chấp nhận và Sử dụng Công nghệ (UTAUT). Cụ thể, nghiên cứu tìm hiểu mục đích và tần suất sử dụng các công cụ số này của sinh viên đại học trong quá trình đọc hiểu học thuật, đồng thời xem xét những lợi ích và hạn chế mà họ nhận thức được khi sử dụng các công cụ đó. Nghiên cứu áp dụng thiết kế hỗn hợp (mixed methods), thu thập dữ liệu định lượng thông qua bảng hỏi được hoàn thành bởi 100 sinh viên đại học chuyên ngành tiếng Anh, và dữ liệu định tính thông qua nhật ký học tập của 10 sinh viên cùng các cuộc phỏng vấn với chính những sinh viên này. Kết quả cho thấy sinh viên đã tích hợp các công cụ AI vào các giai đoạn khác nhau của quá trình đọc hiểu học thuật một cách chủ động và có chiến lược. Họ sử dụng các công cụ này để kích hoạt kiến thức nền, mở rộng vốn từ vựng học thuật, giải thích các cấu trúc ngữ pháp phức tạp, và đặc biệt là tạo thêm các hoạt động luyện tập đọc học thuật. Phân tích tương quan cho thấy mối quan hệ tích cực có ý nghĩa thống kê giữa mức độ sử dụng thực tế các công cụ AI của sinh viên và bốn yếu tố chính của mô hình UTAUT, bao gồm Kỳ vọng về hiệu quả (Performance Expectancy - PE), Kỳ vọng về nỗ lực (Effort Expectancy - EE), Ảnh hưởng xã hội (Social Influence - SI) và Điều kiện hỗ trợ (Facilitating Conditions - FC).Tuy nhiên, sinh viên cũng bày tỏ những lo ngại liên quan đến sự phụ thuộc quá mức vào AI, sự suy giảm tư duy phản biện, cũng như những vấn đề về độ chính xác và tính xác thực của thông tin do AI tạo ra. Do đó, nghiên cứu đưa ra nhiều hàm ý quan trọng cho giáo viên và người học tiếng Anh trong việc tích hợp hiệu quả các công cụ AI vào hoạt động đọc hiểu học thuật.

Hoa lau trong Vĩ Phú (Nguyễn Phúc Miên Trinh): Biểu tượng về người quân tử trong văn hóa phương Đông

Võ Ngọc Thuý*, Trần Thị Thanh Nhị; Nguyễn Thị Xuân Hiền
Tóm tắt
Bài viết khảo sát hình tượng hoa lau trong bài 葦賦 Vĩ Phú (trong 葦野合集 Vĩ Dạ hợp tập) của Tuy Lý Vương Miên Trinh, đặt trong mạch văn hoá, văn học cổ điển Á Đông. Từ phương diện nội dung, kế thừa quan niệm trong văn hóa cổ điển phương Đông về “sinh mệnh chi hoa” hay “anh hùng hoa” và hình ảnh lau lách trong thơ ca Trung Hoa như Kinh Thi, Đỗ Phủ, Lưu Vũ Tích,…, hình tượng hoa lau trong Vĩ phú của Miên Trinh, từ phương diện nội dung, qua phân ly hữu hình (biệt ly, biến thiên, suy tàn), nổi bật giữa không gian mùa thu trên sông nước mênh mang, hiu hắt, vừa thể hiện nội tâm sâu thẳm (cô đơn, u uất), vừa là biểu tượng của lí tưởng sống kiên cường, bất khuất, của bản lĩnh và tài năng của tác giả. Về phương diện nghệ thuật, hình tượng hoa lau trong Vĩ phú được khắc hoạ bằng bút pháp gợi nhiều hơn tả, chỉ bằng vài nét chấm phá đã nổi bật vẻ đẹp giữa bức tranh nhiều gam màu tối lạnh, qua đó, thể hiện triết lí và phong cách nghệ thuật của tác giả Nguyễn Phúc Miên Trinh.

Phát triển và thử nghiệm ban đầu hệ thống thi thử trực tuyến môn Vật lý theo cấu trúc kỳ thi tốt nghiệp THPT với sự hỗ trợ của AI tạo sinh

Trần Thị Hoa Tiên, Đỗ Huy Đức, Phan Thị Thuỳ An, Lê Hà Giang, Ngô Thị Minh Hạnh, Trần Thị Ngọc Ánh*
Tóm tắt
Trong lộ trình chuyển dần kỳ thi tốt nghiệp THPT sang hình thức thi trên máy tính, học sinh cần có cơ hội làm quen với cấu trúc bài thi và các thao tác cơ bản trong môi trường số. Nghiên cứu nhằm phát triển và thử nghiệm ban đầu một hệ thống thi thử trực tuyến môn Vật lý theo cấu trúc kỳ thi tốt nghiệp THPT, trong đó AI tạo sinh được sử dụng như công cụ hỗ trợ xây dựng và hiệu chỉnh mã. Nghiên cứu được thực hiện theo hướng phát triển và thử nghiệm ban đầu mang tính mô tả với 47 học sinh lớp 12. Dữ liệu được thu thập từ nhật ký vận hành lưu trên Google trang tính và phiếu khảo sát gồm tám tiêu chí trải nghiệm sử dụng theo thang Likert 5 mức. Kết quả ghi nhận 47/47 lượt nộp bài được lưu và 47 thông báo kết quả được gửi, với thời gian làm bài trung bình 43 phút trong tổng thời gian 50 phút. Học sinh đánh giá cao khả năng hiển thị kết quả (ĐTB = 4,70) và tính hữu ích của đáp án, hướng dẫn giải (ĐTB = 4,62), trong khi khả năng quan sát nội dung (ĐTB = 3,74) và thao tác chuyển câu (ĐTB = 3,85) được đánh giá thấp hơn. Hai học sinh sử dụng điện thoại cũng mô tả khó khăn khi quan sát một số công thức trên màn hình hẹp. Trong phạm vi thử nghiệm ban đầu, các chức năng chính của hệ thống đã vận hành theo dự kiến; tuy nhiên, khả năng hiển thị và điều hướng trên thiết bị màn hình nhỏ cần tiếp tục được kiểm tra và hoàn thiện trước khi mở rộng sử dụng.

Thiết kế Prompt sư phạm cho AI dựa trên tư duy giải quyết vấn đề có cấu trúc, nhằm phát triển tư duy sáng tạo trong dạy học - Một nghiên cứu bán thực nghiệm

Nguyễn Thế Dũng*, Vương Thị Bình, Nguyễn Đức Nhuận, Phan Hoàng Hải, Phan Minh Đức
Tóm tắt
Nghiên cứu này nhằm đề xuất và đánh giá một khung thiết kế Prompt sư phạm dựa trên tư duy giải quyết vấn đề có cấu trúc nhằm phát triển tư duy sáng tạo và nâng cao mức độ tham gia nhận thức của người học khi học tập với trí tuệ nhân tạo tạo sinh. Điểm mới của nghiên cứu là chuyển hóa các nguyên lý của lý thuyết giải quyết vấn đề sáng tạo thành các nguyên tắc thiết kế prompt có cơ sở sư phạm, định hướng người học tương tác với trí tuệ nhân tạo như một đối tác hỗ trợ tư duy thay vì chỉ tạo ra câu trả lời. Nghiên cứu được thực hiện theo thiết kế bán thực nghiệm đo trước–đo sau trên một nhóm sinh viên, kết hợp với phương pháp nghiên cứu dựa trên thiết kế; dữ liệu được thu thập từ sản phẩm học tập, bảng hỏi và phỏng vấn bán cấu trúc. Kết quả cho thấy việc sử dụng prompt có cấu trúc giúp nâng cao chiều sâu tư duy, tăng cường sự tham gia nhận thức và khuyến khích người học chủ động phân tích, đánh giá và tự điều chỉnh trong quá trình tương tác với trí tuệ nhân tạo. Các phát hiện khẳng định vai trò của Prompt sư phạm như một dạng giàn giáo nhận thức, đồng thời gợi mở một hướng tiếp cận mới trong thiết kế hoạt động dạy học tích hợp trí tuệ nhân tạo và đào tạo năng lực sử dụng trí tuệ nhân tạo trong giáo dục.