Trần Thị Thanh Nhị *

* Người chịu trách nhiệm về bài viết: (tranthithanhnhi@dhsphue.edu.vn)

Abstract

The predicted need is a human consciousness or mind. Forecasts were very diverse in types but could be classified into three large groups: to observe existing natural phenomena, to contact the divine supernatural world and to create systems of methods to predict the future. The above diversity of forecasts  stemmed  from the variety of cultures. One of the basic and fundamental premises for the formation of Vietnamese forecasts in general and in Medieval Narrative Prose in particular were Confucianism, Buddhism and Taoism. They were expressed in literature in character systems with predictive function; in ideas and philosophies and in spiritual practicing of prediction. Having origin from the reception of the Three Teachings, especially Taoism based on the underlying indigenous Southeast Asia culture, those expression in Vietnamese forecasts also had deep marks of culture and history in our country's.
Keywords: Forecast, Three Teachings, Destiny, Magic, Spells

Tóm tắt

Nhu cầu được dự báo là một tâm thức mang tính nhân loại. Dự báo rất đa dạng về loại hình nhưng có thể xếp vào một số nhóm lớn như quan sát những hiện tượng thiên nhiên có sẵn; tiếp xúc với thế giới siêu nhiên thần thánh; tạo ra hệ thống các phương pháp để đoán tương lai. Sự phong phú trên bắt nguồn từ sự đa dạng của các nền văn hoá. Một trong những cơ sở, tiền đề nền tảng cho sự hình thành dự báo Việt nói chung và dự báo trong văn xuôi tự sự trung đại nói riêng là Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo. Chúng biểu hiện vào văn học ở hệ thống nhân vật mang chức năng dự báo; các tư tưởng, triết lý; thực hành tâm linh dự báo. Xuất phát từ việc tiếp nhận tam giáo, nhất là Đạo giáo trên nền văn hoá bản địa cơ tầng Đông Nam Á nên biểu hiện của nó vào dự báo Việt mang đậm dấu ấn văn hoá, lịch sử nước ta.
Từ khóa: Dự báo, Tam giáo, Thiên mệnh, Ma thuật, Bùa chú

Article Details

Tài liệu tham khảo

Frazer, J. G. (2007). Cành vàng: Bách khoa thư về văn hóa nguyên thủy (N. B. Lâm, Dịch). Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin.

Gurevich, A. J. (1996). Các phạm trù văn hóa trung cổ (H. N. Hiến, Dịch). Nhà xuất bản Giáo dục.

Lévy-Bruhl, L. (2008). Kinh nghiệm thần bí và biểu tượng ở người nguyên thủy (N. B. Lâm, Dịch). Nhà xuất bản Thế giới.

Lê, V. Q. (2008). Chu Dịch vũ trụ quan. Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin.

Ngô, G. V. P. (2006). Hoàng Lê nhất thống chí (N. Đ. Vân & K. T. Hoạch, Dịch; T. Nghĩa, Giới thiệu). Nhà xuất bản Văn học.

Ngô, S. L. (1976). Đại Việt sử ký toàn thư. Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

Nguyễn, Đ. T. (1991). Lịch sử triết học phương Đông (5 tập). Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguyễn, H. S., & Trần, Q. Đ. (2014). Thần hóa và vương quyền qua bút pháp vu sử trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư. Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, (11), 100–112.

Nguyễn, K. C. (2003). Nam triều công nghiệp diễn chí (N. Đ. Thọ & N. T. Nga, Giới thiệu). Nhà xuất bản Hội Nhà văn.

Trần, Đ. H. (1999). Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại. Nhà xuất bản Giáo dục.

Trần, N. (Chủ biên). (1997a). Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam (Tập 1). Nhà xuất bản Thế giới.

Trần, N. (Chủ biên). (1997b). Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam (Tập 2). Nhà xuất bản Thế giới.

Trần, N. (Chủ biên). (1997c). Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam (Tập 3). Nhà xuất bản Thế giới.

Trần, N. (Chủ biên). (1997d). Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam (Tập 4). Nhà xuất bản Thế giới.