Ngày xuất bản: 20-06-2026
Tạp chí Khoa học và Giáo dục: Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chiến lược hỗ trợ hành vi tích cực cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ của cha mẹ trên địa bàn huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu "Chiến lược hỗ trợ hành vi tích cực cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ của cha mẹ trên địa bàn huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên" nhằm đánh giá các chiến lược hỗ trợ hành vi tích cực (HTHVTC) trong việc can thiệp cho trẻ RLPTK. Đối tượng khảo sát là 120 phụ huynh có con mắc rối loạn phổ tự kỷ, hiện đang theo học tại 5 trung tâm can thiệp và hòa nhập trên địa bàn huyện Văn Giang. Mẫu nghiên cứu cho thấy các chiến lược hỗ trợ hành vi tích cực mà phụ huynh áp dụng còn ở mức trung bình, với điểm trung bình là 3.48 (trong thang Likert 5 mức. Các chiến lược được đánh giá cao nhất là dạy kỹ năng thay thế (x̄ = 3.56) và hỗ trợ môi trường (x̄ = 3.55), trong khi tương tác xã hội có điểm thấp nhất (x̄ = 3.30).
Đặc biệt, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp về việc áp dụng các chiến lược hỗ trợ hành vi tích cực. Tuy nhiên, các yếu tố tâm lý-xã hội như nhận thức về chiến lược, quan điểm về trừng phạt và việc tham gia các khóa tập huấn có ảnh hưởng rõ rệt đến việc áp dụng HTHVTC. Phụ huynh có hiểu biết về chiến lược này và đã tham gia các khóa tập huấn thể hiện mức độ áp dụng các chiến lược tích cực cao hơn.
Từ kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các chương trình huấn luyện cần được cá nhân hóa và toàn diện hơn, bao gồm không chỉ các kỹ thuật can thiệp cho trẻ mà còn hỗ trợ cha mẹ về mặt tinh thần và kỹ năng tự chăm sóc. Điều này không chỉ giúp nâng cao chất lượng can thiệp mà còn cải thiện chất lượng cuộc sống cho cả trẻ và gia đình.
Thói quen ngủ muộn của sinh viên Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu này khảo sát thực trạng thói quen ngủ muộn dưới dạng trì hoãn giấc ngủ ở 213 sinh viên (SV) Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế (ĐHSP, ĐHH). Thói quen ngủ muộn trong nghiên cứu này được hiểu là hành vi trì hoãn giờ đi ngủ sau 23 giờ so với dự định và lặp lại đủ thường xuyên, trở thành tự động hóa. Dữ liệu được thu thập bằng bảng hỏi dựa trên thang đo Trì hoãn giờ đi ngủ (Bedtime Procrastination Scale- Kroese et al., 2014) cùng các câu hỏi tự báo cáo về thời gian ngủ – thức theo chuẩn quốc tế. Kết quả thống kê mô tả cho thấy mặc dù hơn 82% SV mong muốn ngủ trước 23 giờ nhưng chưa đến 40% thực hiện được; đồng thời 61,51% ngủ sau 23 giờ trong ngày học và 73,71% vào ngày nghỉ. Những phát hiện này phản ánh khoảng cách đáng kể giữa ý định và hành vi. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ sự kết hợp giữa cám dỗ của môi trường số (đặc biệt là mạng xã hội) và sự suy giảm năng lực tự điều chỉnh vào cuối ngày. Cơ chế “chỉ thêm một chút nữa” cùng trạng thái mệt mỏi khiến SV dễ rơi vào vòng lặp: giải trí thụ động – mất kiểm soát thời gian – thức khuya. Nghiên cứu gợi ý rằng trì hoãn giờ ngủ ở SV là vấn đề tâm lý – hành vi, không chỉ đơn thuần là vấn đề sinh học. Từ kết quả này, nhóm nghiên cứu đề xuất các biện pháp can thiệp ở cấp độ cá nhân (quản lý thói quen sử dụng thiết bị, kỹ thuật “Nếu – Thì”, “Brain Dump”) và cấp độ nhà trường (giáo dục về quản lý thời gian, nhịp sinh học và hỗ trợ tâm lý học đường). Nghiên cứu đóng góp dữ liệu nền tảng về hiện tượng “trì hoãn giờ đi ngủ” trong bối cảnh SV Việt Nam và gợi mở hướng can thiệp nhằm cải thiện sức khỏe giấc ngủ và hiệu quả học tập.
Sức khỏe tâm thần của phụ nữ sau ly hôn: Một nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu này nhằm khảo sát thực trạng sức khỏe tâm thần của phụ nữ sau ly hôn tại Thành phố Hồ Chí Minh. Mẫu nghiên cứu gồm 79 phụ nữ sau ly hôn được lựa chọn bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Các thang đo được sử dụng bao gồm CES-D-10 (trầm cảm), GAD-7 (lo âu), PSS-SR5 (căng thẳng sau sang chấn), và PERMA-Profiler (an lạc). Kết quả cho thấy gần một nửa số phụ nữ có triệu chứng trầm cảm (48,1%) và hơn một nửa có lo âu (50,2%) hoặc căng thẳng (50,6%), phản ánh mức độ rối nhiễu cảm xúc đáng kể ở nhóm đối tượng này. Tuy vậy, các chỉ báo an lạc vẫn đạt mức trung bình khá, cho thấy các yếu tố tích cực như ý nghĩa cuộc sống, gắn kết xã hội và cảm xúc tích cực vẫn được duy trì ở một bộ phận phụ nữ sau ly hôn. Kết quả nghiên cứu phù hợp với mô hình hai liên tục của Keyes (Keyes’ Dual Continua Model of Mental Health), cho thấy well-being và các vấn đề về sức khỏe tinh thần là hai cấu trúc có thể biến thiên độc lập tương đối; do đó, ngay cả khi xuất hiện các triệu chứng rối nhiễu tâm lý, một mức độ well-being nhất định vẫn có thể được duy trì. Nghiên cứu đề xuất các chương trình hỗ trợ phụ nữ sau ly hôn cần tập trung đồng thời vào giảm triệu chứng rối nhiễu và tăng cường sức mạnh nội tại nhằm thúc đẩy quá trình thích ứng sau ly hôn.
Quản lý hoạt động phát triển văn hóa đọc cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm, Đại Học Huế
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng quản lý phát triển văn hóa đọc cho sinh viên tại Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế. Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp định lượng, khảo sát bằng bảng hỏi thang Likert 5 mức đối với 55 cán bộ quản lý, giảng viên, cán bộ thư viện. Dữ liệu được xử lý bằng các phương pháp thống kê mô tả nhằm xác định mức độ hiệu quả của các nội dung quản lý. Kết quả nghiên cứu cho thấy công tác quản lý hoạt động phát triển văn hóa đọc cho sinh viên đạt một số kết quả tương đối tốt: Mục tiêu, nội dung và hình thức tổ chức cơ bản phù hợp với mục tiêu đào tạo. Tuy nhiên, nghiên cứu còn cho thấy một số hạn chế như sự phối hợp giữa các lực lượng trong nhà trường chưa đồng bộ, công tác giám sát và đánh giá hoạt động này chưa thường xuyên, việc khai thác học liệu số và môi trường đọc trực tuyến chưa hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý phát triển văn hóa đọc cho sinh viên ở Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung cơ sở thực tiễn cho quản lý phát triển văn hóa đọc trong giáo dục đại học, đồng thời cung cấp các gợi ý có giá trị tham khảo cho các cơ sở đào tạo sư phạm trong bối cảnh đổi mới giáo dục và chuyển đổi số.
Nghiên cứu kiểu nhân vật dự báo trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam
Tóm tắt
|
PDF
Trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam, nhân vật mang chức năng dự báo là kiểu nhân vật hành chức có tính chất, chức năng, vai trò dự báo, báo trước tương lai, vận số cho cá nhân, cộng đồng. Kiểu nhân vật này bao gồm ba nhóm nhỏ: nhân vật kỳ ảo, nhân vật dự báo môi giới, kết nối hai thế giới thực - ảo, nhân vật bình phàm. Ngoài những đặc điểm chung trong cách thức dự báo, mỗi kiểu loại nhân vật còn những nét đặc điểm riêng biệt về xuất thân, khả năng, sự tương tác với các nhân vật khác, vai trò trong tác phẩm.
Đổi mới dạy học dịch thuật Việt–Trung trong kỷ nguyên AI: Cơ sở lý luận và mô hình ứng dụng
Tóm tắt
|
PDF
Sự phát triển của dịch máy nơ-ron (NMT) và các mô hình ngôn ngữ lớn (LLMs) đang đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản đối với dạy học dịch thuật Việt–Trung ở bậc đại học. Bài báo đặt câu hỏi: dạy học dịch thuật Việt–Trung cần thay đổi như thế nào để đáp ứng bối cảnh AI, và mô hình tích hợp nào phù hợp với đặc thù cặp ngôn ngữ này? Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích–tổng hợp tài liệu, hệ thống hóa lý thuyết và suy luận dạy học dựa trên các khung lý thuyết kiến tạo, TPACK, SAMR và lý thuyết năng lực dịch thuật lai. Kết quả nghiên cứu xác định sáu thành tố của năng lực dịch thuật lai và đề xuất mô hình VCT-AI (Vietnamese–Chinese Translation – AI Integration Model) gồm bốn trụ cột: củng cố nền tảng dịch thuật thủ công; phát triển kỹ năng prompt engineering chuyên ngành Việt–Trung; thực hành hậu biên tập có hướng dẫn; và đánh giá đạo đức cùng năng lực dịch thuật lai. Mô hình được cụ thể hóa qua quy trình dạy học năm bước và hệ tiêu chí đánh giá bốn chiều có phân bổ trọng số. Nghiên cứu đóng góp một khung dạy học dịch thuật chuyên biệt cho cặp Việt–Trung trong kỷ nguyên AI, có ý nghĩa ứng dụng thiết thực cho thiết kế học phần dịch ở bậc đại học, đồng thời đặt nền móng cho các thực nghiệm lớp học tiếp theo.
Thực trạng và giải pháp đảm bảo quyền giữ gìn, phát huy bản sắc của trẻ em trong bối cảnh toàn cầu hóa
Tóm tắt
|
PDF
Quyền giữ gìn, phát huy bản sắc của trẻ em được ghi nhận trong Luật trẻ em năm 2016, thể hiện một cái nhìn đổi mới của Đảng và Nhà nước về vai trò của trẻ em đối với vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Với sự nỗ lực của gia đình, nhà trường và xã hội, công tác bảo đảm quyền giữ gìn và phát huy bản sắc của trẻ em đã đạt được rất nhiều thành tựu đáng kể. Trẻ em trở thành một chủ thể quan trọng để lưu giữ và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Tuy nhiên, dưới tác động của toàn cầu hóa dẫn đến sự xâm nhập của các trào lưu văn hóa không phù hợp. Trước thực trạng đó, bài viết đưa ra một định hướng giải pháp nhằm bảo đảm quyền giữ gìn, phát huy bản sắc của trẻ em, góp phần giữ gìn những tinh hoa văn hóa tốt đẹp của dân tộc trong bối cảnh thời đại mới.
Giáo dục đạo đức thông qua hoạt động trải nghiệm ở các trường tiểu học thành phố Huế
Tóm tắt
|
PDF
Giáo dục đạo đức (GDĐĐ) cho học sinh (HS) là một bộ phận quan trọng, có tính chất nền tảng của quá trình giáo dục toàn diện ở trường tiểu học. Trong những con đường GDĐĐ cho HS, thông qua hoạt động trải nghiệm (HĐTN) là con đường có nhiều ưu thế. Muốn thực hiện công tác GDĐĐ thông qua HĐTN cho HS có chất lượng và hiệu quả, các nhà trường cần xác định được một cách đúng đắn, đầy đủ mục tiêu; vận dụng được các nội dung, phương pháp, hình thức GDĐĐ thông qua HĐTN. Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng GDĐĐ thông qua HĐTN cho HS các trường tiểu học thành phố Huế. 150 giáo viên (GV) của 7 trường tiểu học đã tham gia vào nghiên cứu thông qua việc trả lời phiếu khảo sát. Kết quả nghiên cứu cho thấy, phần lớn GV đều nhận thức được tầm quan trọng của GDĐĐ thông qua HĐTN; các nhà trường đã tổ chức đa dạng các hoạt động GDĐĐ thông qua HĐTN với nội dung, phương pháp và hình thức phù hợp cho HS, bước đầu đã có tác động tích cực, giúp HS rèn luyện và hình thành lối sống phù hợp với chuẩn mực đạo đức. Tuy nhiên hoạt động này vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế do nhiều nguyên nhân. Trong đó, HĐTN vì mới áp dụng ở cấp tiểu học nên việc tổ chức hoạt động GDĐĐ thông qua HĐTN cho HS ở các trường tiểu học vẫn chưa đảm bảo được tính hệ thống, kế hoạch và thường xuyên. Trên cơ sở thực trạng, tác giả đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác GDĐĐ thông qua HĐTN, góp phần phát triển toàn diện nhân cách cho HS và thực hiện thành công chương trình giáo dục phổ thông mới.
Màu sắc của tam giáo trong dự báo Việt (Khảo sát trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam)
Tóm tắt
|
PDF
Nhu cầu được dự báo là một tâm thức mang tính nhân loại. Dự báo rất đa dạng về loại hình nhưng có thể xếp vào một số nhóm lớn như quan sát những hiện tượng thiên nhiên có sẵn; tiếp xúc với thế giới siêu nhiên thần thánh; tạo ra hệ thống các phương pháp để đoán tương lai. Sự phong phú trên bắt nguồn từ sự đa dạng của các nền văn hoá. Một trong những cơ sở, tiền đề nền tảng cho sự hình thành dự báo Việt nói chung và dự báo trong văn xuôi tự sự trung đại nói riêng là Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo. Chúng biểu hiện vào văn học ở hệ thống nhân vật mang chức năng dự báo; các tư tưởng, triết lý; thực hành tâm linh dự báo. Xuất phát từ việc tiếp nhận tam giáo, nhất là Đạo giáo trên nền văn hoá bản địa cơ tầng Đông Nam Á nên biểu hiện của nó vào dự báo Việt mang đậm dấu ấn văn hoá, lịch sử nước ta.
Hành vi giới tính của học sinh khuyết tật trí tuệ tại trường tiểu học trên địa bàn thành phố Huế
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu về hành vi giới tính của học sinh KTTT có ý nghĩa to lớn đối với các em. Sự thiếu hiểu biết về giới và các kỹ năng giới tính phù hợp khiến các em xuất hiện nhiều hành vi không phù hợp; ảnh hưởng xấu đến sức khỏe sinh sản, tổn thương nghiêm trọng cả về thể chất lẫn tinh thần… Nghiên cứu này nhằm đánh giá hành vi giới tính của 40 học sinh KTTT trong độ tuổi 6-12, đang theo học tại các lớp hòa nhập và hội nhập ở 04 trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Huế. Đồng thời, nghiên cứu cũng đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi giới tính của đối tượng này. Tất cả học sinh tham gia đều được sự đồng ý của phụ huynh, Ban giám hiệu nhà trường và giáo viên. Hành vi giới tính của khách thể được đánh giá bằng 5 Item của Bảng kiểm hành vi trẻ em CBCL (The Child Behavior Checklist). Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ học sinh KTTT có biểu hiện hành vi giới tính với mức độ thường xuyên và thỉnh thoảng khá cao lần lượt là: 27.5% học sinh có hành vi “chơi với bộ phận sinh dục quá nhiều”, 22.5% học sinh có hành vi “đụng chạm/chơi bộ phận sinh dục ở nơi công cộng”, 30% học sinh có hành vi “cư xử như người khác giới”; 15% học sinh có hành vi “nghĩ về tình dục quá nhiều”. Nghiên cứu này chưa đánh giá được mối tương quan giữa giới tính, mức độ khuyết tật, độ tuổi với hành vi giới tính, đây là một gợi ý quan trọng cho các nghiên cứu trong tương lai.
Nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong cách mạng giải phóng dân tộc
Tóm tắt
|
PDF
Chủ tịch Hồ Chí Minh là danh nhân văn hoá kiệt xuất, nhà quân sự thiên tài của cách mạng Việt Nam. Người đã xây dựng hệ thống quan điểm quân sự toàn diện và sâu sắc, có giá trị lý luận và thực tiễn, được vận dụng và phát triển trong thực tiễn đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền của dân tộc. Vận dụng nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn dân tộc giành những thắng lợi quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Đánh giá tình hình thực hiện chuyển nhượng và thế chấp quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu đánh giá việc thực hiện tình hình chuyển nhượng và thế chấp quyền sử dụng đất tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền sử dụng đất. Kết quả cho thấy, giai đoạn 2017-2021 có 38.172 trường hợp thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất với 2414.007 ha đất nông nghiệp và 47.292 trường hợp thực hiện thế chấp quyền sử dụng đất cho 1949.584 ha đất nông nghiệp. Thủ tục thực hiện quyền sử dụng đất tại văn phòng đăng ký đất đai dễ hiểu, dễ thực hiện, phần lớn các giao dịch thực hiện đều đúng lịch hẹn, tìm kiếm thông tin và giao dịch quyền sử dụng đất dễ dàng. Tuy nhiên, các loại phí, lệ phí quyền sử dụng đất đều ở mức cao. Một số giải pháp đề xuất để nâng cao hiệu quả gồm: Nâng cao trình độ hiểu biết của người dân về quy định quản lý đất đai; giải pháp chính sách.
Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến ngành nông nghiệp ở huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị
Tóm tắt
|
PDF
Nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp kết hợp cùng phương pháp thực địa và phương pháp chuyên gia nhằm đánh giá tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) đến ngành nông nghiệp ở huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Kết quả nghiên cứu cho thấy: giai đoạn từ 1975-2019, biến đổi khí hậu đã dẫn đến nhiều vấn đề và hệ quả của nó trên nhiều phương diện trong đó có nông nghiệp. Đó là: nhiệt độ tăng 0,640°C/39 năm; lượng mưa giảm 0,2%/thập kỷ; các hiện tượng thời tiết cực đoan diễn biến rất phức tạp và khó lường. Sự biến đổi của khí hậu đã tác động xấu đến sản xuất nông nghiệp. Do đó, cần thực hiện các nhóm giải pháp công trình và phi công trình nhằm ứng phó với BĐKH trong sản xuất nông nghiệp ở huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.