Ngày xuất bản: 20-10-2026

Bầu không khí tâm lý trường học và sự hài lòng công việc của giáo viên: Một nghiên cứu cắt ngang tại khu vực miền Trung Việt Nam

Nguyễn Thanh Hùng, Phạm Thị Thúy Hằng, Đậu Minh Long, Lê Văn Thăng, Đinh Thị Phương Loan, Đậu Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Việt Dũng
Tóm tắt | PDF (English)
Nghiên cứu này xem xét mối liên hệ giữa bầu không khí tổ chức trường học (Organizational Climate – OC) và sự hài lòng công việc của giáo viên (Job Satisfaction – JS) tại các trường phổ thông công lập khu vực miền Trung Việt Nam trong bối cảnh đổi mới giáo dục đang được triển khai. Nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang với 497 giáo viên thuộc các trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông công lập, sử dụng phiên bản tiếng Việt đã được kiểm định của Thang đo Bầu không khí tổ chức (OCS-V) và Thang đo Sự hài lòng công việc của giáo viên (T-JSS). Thống kê mô tả và phân tích tương quan Pearson được sử dụng để xem xét mối liên hệ hai biến giữa bầu không khí tổ chức và sự hài lòng công việc của giáo viên. Tiếp đó, phân tích hồi quy tuyến tính phân cấp được thực hiện nhằm đánh giá đóng góp gia tăng của bầu không khí tổ chức sau khi đã kiểm soát các đặc điểm nhân khẩu học. Trong Mô hình 1, các biến giới tính, tuổi và cấp học được đưa vào làm biến kiểm soát; trong Mô hình 2, biến bầu không khí tổ chức được bổ sung vào mô hình. Kết quả cho thấy bầu không khí tổ chức có tương quan thuận với sự hài lòng công việc của giáo viên (r = .327, p < .001). Việc bổ sung biến bầu không khí tổ chức làm tăng đáng kể khả năng giải thích của mô hình hồi quy (ΔR² = .102, p < .001), và bầu không khí tổ chức trường học vẫn có mối liên hệ thuận với sự hài lòng công việc của giáo viên (β = .323, p < .001). Mô hình cuối cùng giải thích được 11,0% phương sai của sự hài lòng công việc (R² = .110; R² hiệu chỉnh = .101). Kết quả nghiên cứu cho thấy bầu không khí tổ chức trường học là một yếu tố tổ chức quan trọng có liên quan đến sự hài lòng công việc của giáo viên. Về mặt thực tiễn, việc tăng cường sự hỗ trợ của lãnh đạo, thúc đẩy hỗ trợ chuyên môn, ghi nhận những đóng góp của giáo viên và cải thiện điều kiện làm việc có thể góp phần nâng cao trải nghiệm nghề nghiệp của giáo viên. Nghiên cứu cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm từ Việt Nam và góp phần làm rõ hơn mối liên hệ giữa bầu không khí tổ chức trường học và sự hài lòng công việc của giáo viên trong bối cảnh đổi mới giáo dục.

Việc sử dụng các công cụ có sự hỗ trợ của AI trong đọc hiểu học thuật của sinh viên đại học học tiếng Anh như một ngoại ngữ

Lê Nguyễn Tú Trinh, Lê Phạm Hoài Hương, Lê Thị Minh Trang
Tóm tắt | PDF (English)
Nghiên cứu này khảo sát việc sinh viên đại học học tiếng Anh như một ngoại ngữ (EFL) bằng cách sử dụng các công cụ dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI) trong đọc hiểu học thuật theo lăng kính của Mô hình Thống nhất về Chấp nhận và Sử dụng Công nghệ (UTAUT). Cụ thể, nghiên cứu tìm hiểu mục đích và tần suất sử dụng các công cụ số này của sinh viên đại học trong quá trình đọc hiểu học thuật, đồng thời phân tích những lợi ích và hạn chế mà họ nhận thức được khi sử dụng các công cụ đó. Nghiên cứu áp dụng thiết kế hỗn hợp (mixed methods), thu thập dữ liệu định lượng thông qua bảng hỏi từ 100 sinh viên đại học chuyên ngành tiếng Anh, và dữ liệu định tính thông qua nhật ký học tập của 10 sinh viên cùng các cuộc phỏng vấn với chính những sinh viên này. Kết quả cho thấy sinh viên đã tích hợp các công cụ AI vào các giai đoạn khác nhau của quá trình đọc hiểu học thuật một cách chủ động và có chiến lược. Họ sử dụng các công cụ này để kích hoạt kiến thức nền, mở rộng vốn từ vựng học thuật, giải thích các cấu trúc ngữ pháp phức tạp, và đặc biệt là tạo thêm các hoạt động luyện tập đọc học thuật. Phân tích tương quan cho thấy mối quan hệ tích cực có ý nghĩa thống kê giữa mức độ sử dụng thực tế các công cụ AI của sinh viên và bốn yếu tố chính của mô hình UTAUT, bao gồm Kỳ vọng về hiệu quả (Performance Expectancy - PE), Kỳ vọng về nỗ lực (Effort Expectancy - EE), Ảnh hưởng xã hội (Social Influence - SI) và Điều kiện hỗ trợ (Facilitating Conditions - FC).Tuy nhiên, sinh viên cũng bày tỏ những lo ngại liên quan đến sự phụ thuộc quá mức vào AI, sự suy giảm tư duy phản biện, cũng như những vấn đề về độ chính xác và tính xác thực của thông tin do AI tạo ra. Do đó, nghiên cứu đưa ra nhiều hàm ý quan trọng cho giáo viên và người học tiếng Anh trong việc tích hợp hiệu quả các công cụ AI vào hoạt động đọc hiểu học thuật.

Sự gắn kết của người học và kết quả nói tiếng Anh của học viên tiếng Anh như ngoại ngữ tại một trung tâm ngoại ngữ ở Việt Nam

Lưu Đạt Phi
Tóm tắt | PDF (English)
Một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự gắn kết của học sinh và thành tích ngoại ngữ đã được thực hiện trong các bối cảnh tiếng Anh là ngoại ngữ dưới các khía cạnh hành vi, cảm xúc, nhận thức và tính chủ động (Đinh-sơ và cộng sự, 2017; Trinh và Conner, 2019; Lưu và cộng sự, 2023). Dù vậy, ít nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa bốn chiều cạnh này với kết quả nhiệm vụ nói của người học. Nghiên cứu cắt ngang này được thực hiện nhằm khảo sát mối quan hệ giữa sự gắn kết đa chiều và điểm kiểm tra nói trên 96 học sinh tiếng Anh nhỏ tuổi tại một trung tâm ngoại ngữ tư thục ở Việt Nam. Dữ liệu thu thập thông qua bảng hỏi sự gắn kết miệng ngữ gồm 12 mục và bài kiểm tra nói do hai giám khảo đánh giá. Kiểm định t và hồi quy tuyến tính bội được sử dụng để phân tích dữ liệu. Thống kê mô tả cho thấy mức độ gắn kết ở mức cao, với nhận thức đạt điểm trung bình cao nhất. Nữ giới có mức độ gắn kết về hành vi, cảm xúc và tính chủ động cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nam giới. Kết quả hồi quy cho thấy sự gắn kết cảm xúc và nhận thức có tương quan với điểm kiểm tra nói, trong khi hành vi và tính chủ động không là biến dự báo có ý nghĩa. Do thiết kế nghiên cứu cắt ngang, kết quả phản ánh mối liên hệ thống kê thay vì nhân quả. Phát hiện này gợi ý rằng việc giảng dạy kỹ năng nói tại các cơ sở ngoại ngữ tư thục có liên quan đến sự gắn kết cảm xúc và nhận thức của học sinh, đồng thời không phải mọi chiều cạnh gắn kết đều có mức độ đóng góp tương đương đối với kỹ năng nói.

Đặc tính dẫn sóng của sợi quang Ge25Sb10S65 mạng bát giác có diện tích mode lớn

Hoàng Trọng Đức, Nguyễn Tú Hà
Tóm tắt | PDF (English)
Các sợi quang lõi rắn với cấu trúc lõi lớn (Dc = 4Λ − d) thường cung cấp diện tích mode hiệu dụng lớn, mang lại tiềm năng cho nhiều ứng dụng quang tử. Trong công trình này, một sợi quang tinh thể quang tử hình bát giác dựa trên thủy tinh Ge25Sb10S65 được đề xuất và phân tích bằng phương pháp số. Vùng lõi lớn được hình thành bằng cách loại bỏ vòng lỗ khí thứ nhất bao quanh tâm sợi. Kết quả cho thấy cấu trúc được đề xuất duy trì diện tích mode hiệu dụng tương đối lớn, khoảng 10 – 100 μm2 trong dải bước sóng từ 1 đến 10 μm. Ngoài ra, trong vùng 1 – 7 µm, sợi đạt được tổn hao giam giữ cực thấp với giá trị trung bình cỡ 10−8 dB/m. Những đặc tính này cho thấy tiềm năng ứng dụng của sợi tinh thể quang tử được đề xuất trong truyền tải công suất cao, quang học phi tuyến và hệ thống quang tử hồng ngoại tầm trung.

Mối quan hệ giữa học tập hợp tác và đồng cảm ở sinh viên Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế

Trần Nguyên Cát Tiên, Nguyễn Phước Cát Tường
Tóm tắt | PDF
Trong bối cảnh giáo dục đại học, học tập hợp tác và đồng cảm là những năng lực cốt lõi có mối quan hệ mật thiết, giúp nâng cao chất lượng tương tác và hiệu quả đào tạo. Mục đích của nghiên cứu này là tìm hiểu mối quan hệ giữa học tập hợp tác và đồng cảm ở sinh viên. 247 sinh viên hệ chính quy tại Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế đã tham gia vào nghiên cứu và hoàn thành bảng hỏi gồm Bảng hỏi Học tập hợp tác (CLQ) và Thang đo Đồng cảm Cơ bản dành cho người lớn (BES-A). Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ học tập hợp tác của sinh viên đạt mức cao (ĐTB = 4,33), sinh viên có mức độ đồng cảm nhận thức cao hơn đồng cảm cảm xúc. Đồng thời, kết quả chỉ ra có mối tương quan thuận chiều giữa học tập hợp tác (nổi bật là trách nhiệm cá nhân) và mức độ đồng cảm cảm xúc của sinh viên. Từ đó, một số đề xuất sư phạm nhằm nâng cao hiệu quả làm việc nhóm và phát triển năng lực đồng cảm cho sinh viên đã được đưa ra.

Xác định yêu cầu cần đạt và điều chỉnh nội dung dạy học nói và nghe cho học sinh lớp 2 theo hướng tiếp cận phân hoá

Trịnh Cam Ly, Lê Văn Tùng
Tóm tắt | PDF
Năng lực nói và nghe của học sinh lớp 2 có thể được hình thành, củng cố và phát triển bằng nhiều cách thức, con đường. Xác định yêu cầu cần đạt và điều chỉnh nội dung dạy học nói và nghe cho học sinh lớp 2 phù hợp với từng nhóm đối tượng học sinh ở các giai đoạn học tập khác nhau là một trong những giải pháp hỗ trợ học sinh hình thành, củng cố và phát triển năng lực nói và nghe. Các giải pháp đề xuất đáp ứng nguyên tắc vừa sức, tạo sức đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu dạy học phân hoá mà CTGDPT 2018 đặt ra. Đồng thời, những giải pháp này cũng tạo điều kiện cho giáo viên linh hoạt trong thực hiện chương trình và sử dụng ngữ liệu dạy học, đồng thời mở ra những hướng tiếp cận góp phần thực hiện hiệu quả chương trình và sách giáo khoa mới.

Bồi dưỡng năng khiếu Tiếng Việt cho học sinh lớp 4 qua hoạt động viết đoạn văn, văn bản

Phan Thị Ánh Hằng
Tóm tắt | PDF
Bồi dưỡng năng khiếu Tiếng Việt cho học sinh là một trong những mục tiêu chiến lược ở nhà trường tiểu học. Mục tiêu này có thể được thực hiện qua nhiều cách thức, con đường khác nhau; song với tính chất của hoạt động rèn luyện kỹ năng mang tính tổng hợp, viết đoạn văn, văn bản là địa chỉ lý tưởng để phát huy năng khiếu Tiếng Việt nổi trội ở người học. Trong giai đoạn đầu của dạy học Tiếng Việt lớp 4 theo Chương trình 2018, bồi dưỡng năng khiếu Tiếng Việt bằng hệ thống bài tập thực hành, bằng hoạt động trải nghiệm và các cuộc thi viết sáng tạo là những biện pháp có tính khả thi cao.