Thái Phan Vàng Anh * Lê Thị Hường

* Người chịu trách nhiệm về bài viết: (thaiphanvanganh@dhsphue.edu.vn)

Abstract

With three novels—“Mộ phần tuổi trẻ” (Grave of Youth), “Những vọng âm nằm ngủ” (Sleeping Echoes), and “Bể trăng côi” (The Lonely Moon Sea)—Huỳnh Trọng Khang has emerged as one of the few young Vietnamese writers to firmly establish his position in the literary landscape of early 21st-century Vietnam, achieving this recognition in his early thirties. By choosing themes of war and pandemics, Huỳnh Trọng Khang demonstrates remarkable courage in addressing and recognizing humanity's profound existential concerns and the tribulations of life. To affirm the contributions in terms of themes, genres, and to identify the style of this 1994-born writer within the overall achievements of contemporary Vietnamese literature, this article focuses on three prominent issues in Huỳnh Trọng Khang's novels: War and pandemics – the pain and disasters of humanity; Humans in war and pandemics – confronting and choosing in adversity; Narratives about war and pandemics – a discourse on human existence. Approaching from existential aesthetics, and using typological method, structural-systematic method, and comparative method, through these arguments this paper clarifies the artistic sensibility as well as the creative personality of Huỳnh Trọng Khang when he chooses war and pandemics as the background to explore the dimensions of human fate.
Keywords: War, Epidemic, Existential, Narrative, Discourse

Tóm tắt

Với ba tiểu thuyết Mộ phần tuổi trẻ, Những vọng âm nằm ngủ và Bể trăng côi, Huỳnh Trọng Khang là một trong số ít những nhà văn sớm khẳng định được vị thế của mình trong dòng chảy của văn học Việt Nam những thập niên đầu thế kỉ XXI khi vừa mới ngoài ba mươi tuổi. Chọn đề tài chiến tranh và dịch bệnh, Huỳnh Trọng Khang tỏ ra rất có bản lĩnh khi “dám” đề cập và nhận diện các vấn đề lớn của nhân loại gắn với những ưu tư hiện sinh và những trầm luân về kiếp sống. Để khám phá những đóng góp về đề tài, thể loại cũng như nhận diện phong cách của nhà văn sinh năm 1994 này trong thành tựu chung của văn học Việt Nam đương đại, bài nghiên cứu này tập trung vào ba vấn đề nổi bật trong tiểu thuyết Huỳnh Trọng Khang: Chiến tranh và dịch bệnh – nỗi đau và thảm họa của loài người; Con người trong chiến tranh và dịch bệnh – đối diện và lựa chọn trước nghịch cảnh; Tự sự về chiến tranh và dịch bệnh – một diễn ngôn về những tồn tại nhân sinh. Tiếp cận từ mỹ học hiện sinh, với các phương pháp loại hình, phương pháp cấu trúc – hệ thống, phương pháp so sánh, bài viết làm rõ cảm quan nghệ thuật, cũng như cá tính sáng tạo của Huỳnh Trọng Khang khi chọn chiến tranh và dịch bệnh làm nền để khám phá các chiều kích thân phận con người.
Từ khóa: Chiến tranh, Dịch bệnh, Hiện sinh, Tự sự, Diễn ngôn

Article Details

Tài liệu tham khảo

Aldama, F. L. (2021). “What Literature Tells Us about the Pandemic: An Interview with Frederick Aldama”.  Journal of Critical Studies in Language and Literature. 2(1), 24-27. DOI: https://doi.org/10.46809/jcsll.v2i1.50

Anh, M. (2023). “'Bể trăng côi': Đời diệt rồi sinh…”. Truy cập từ 06/6/2025, từ  www.thanhnien.vn.

Bảo, T.P. (2023), Huỳnh Trọng Khang: Bày xác chữ giữ hồn thương. Truy cập từ 10/6/2025, từ www.baoquangnam.vn

Caruth, K. (2020). Kinh nghiệm không được khẳng định: Chấn thương và những khả năng của lịch sử (Hải Ngọc dịch). Truy cập từ 15/5/2025 từ www.nguvan.hnue.edu.vn

Davoine, F. (2022). Pandemics, Wars, Traumas and Literature - Echoes from the Front Lines. Routledge.

Goldberg, A (2006). “Trauma, Narrative and Two Forms of Death”Literature and Medicine 25, No. 1. (Spring 2006), pp. 122-141.

Khang, H.T. (2016). Mộ phần tuổi trẻ. Hà Nội: Hội nhà văn.

Khang, H.T. (2018). Những vọng âm nằm ngủ. Hà Nội: Hội nhà văn.

Khang, H.T. (2023). Bể trăng côi. Hà Nội: Trẻ.

Nietzsche, F. (2014). Zarathustra đã nói như thế (Trần Xuân Kiêm dịch). Hà Nội: Văn học.

Trang, N.T. (2024). “Theme of pandemics in literature: From The Plague by Albert Camus to Vietnamese novels in the early 21st century”. Vietnam Social Sciences, No 1 (66), p.109-120.