Ngày xuất bản: 20-10-2025

Sinh viên đại học học tiếng Anh như ngoại ngữ (EFL) và việc sử dụng các ứng dụng trực tuyến để đọc mở rộng

Huỳnh Thị Xuân Phương, Lê Phạm Hoài Hương
Tóm tắt | PDF (English)
Nghiên cứu này tìm hiểu cách sinh viên học tiếng Anh như một ngoại ngữ (EFL) tại Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế (HUFLIS) sử dụng các ứng dụng trực tuyến để đọc mở rộng. Thiết kế phương pháp hỗn hợp được sử dụng để thu thập dữ liệu định lượng thông qua khảo sát bằng bảng hỏi (N=108) và dữ liệu định tính thông qua phỏng vấn bán cấu trúc (N=10) và nhật ký học tập của sinh viên (N=10). Kết quả nghiên cứu cho thấy sinh viên chủ yếu sử dụng các ứng dụng trực tuyến vì sự tiện lợi, khả năng tiếp thu từ vựng và phát triển kỹ năng đọc. Phần lớn người tham gia nghiên cứu báo cáo những tác động tích cực từ việc đọc mở rộng trên các ứng dụng trực tuyến đối với kỹ năng đọc, tạo động lực học tập và mở rộng tri thức. Tuy nhiên, việc sử dụng các ứng dụng trực tuyến cho đọc mở rộng cũng dẫn đến một số thách thức, bao gồm sự phân tán sự tập trung, bị làm phiền bởi quảng cáo, nội dung không phù hợp, và các rào cản như kết nối Internet hay tình trạng mỏi mắt. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy sinh viên coi trọng không chỉ việc truy cập miễn phí mà còn cả nội dung và trải nghiệm sử dụng các ứng dụng. Từ những kết quả này, nghiên cứu đưa ra các gợi ý về cách sử dụng các ứng dụng trực tuyến để thực hiện hoạt động đọc mở rộng một cách hiệu quả.

Trọng tâm tương tác của cộng đồng thực hành trên Facebook dành cho hoạt động phát triển chuyên môn của giáo viên tiếng Anh tại Việt Nam

Lê Duy Quốc Anh, Nguyễn Thị Bảo Trang
Tóm tắt | PDF (English)
Nghiên cứu này tìm hiểu các trọng tâm tương tác trong một cộng đồng thực hành trên Facebook có tên là “Teachers of TESOL” (bút danh) như một nền tảng phát triển chuyên môn (PTCM) cho giáo viên tiếng Anh tại Việt Nam. Phương pháp định tính được áp dụng trong nghiên cứu này thông qua việc thu thập 100 bài đăng Facebook gần đây nhất (tính đến tháng 7 năm 2024). Sự tương tác của các giáo viên đối với các bài đăng được phân tích nhằm tìm ra trọng tâm xuất hiện từ khối dữ liệu. Kết quả chỉ ra rằng các giáo viên trong cộng đồng này có nhiều trọng tâm tương tác chính, bao gồm cơ hội PTCM (25,5%), nguồn PTCM (21,9%), nghiên cứu (19,4%), tuyển dụng giáo viên (14,6%), và kỹ thuật giảng dạy (13,7%). Ngoài ra còn một số trọng tâm thứ yếu khác, chiếm 4,9% khối dữ liệu. Một số đề xuất quan trọng đối với việc điều chỉnh các chương trình PTCM cũng được thảo luận trong nghiên cứu này.

Học từ vựng tiếng Anh qua các ứng dụng trực tuyến của sinh viên

Lê Thị Kim Chi, Lê Phạm Hoài Hương
Tóm tắt | PDF (English)
Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu nhận thức, xu hướng sử dụng và đánh giá việc học từ vựng tiếng Anh thông qua các ứng dụng trực tuyến của 100 sinh viên đại học tại một trường đại học ở Việt Nam. Dữ liệu được thu thập thông qua bảng hỏi, nhật ký học tập và phỏng vấn. Kết quả cho thấy phần lớn sinh viên EFL có nhận thức tích cực về việc học từ vựng tiếng Anh qua các ứng dụng trực tuyến. Đặc biệt, họ đánh giá cao sự tiện lợi khi học từ vựng qua các nền tảng trực tuyến, tuy nhiên lại thể hiện mức độ tự tin tương đối thấp trong khả năng tiếp thu từ vựng của bản thân. Ngoài ra, nghiên cứu còn phát hiện các mô hình sử dụng và chiến lược học từ vựng đa dạng mà sinh viên áp dụng khi sử dụng các ứng dụng trực tuyến này. Đáng chú ý, các người tham gia nhấn mạnh việc sử dụng thẻ từ, các kỹ thuật ghi nhớ và học trong ngữ cảnh. Một số sinh viên còn tạo danh sách từ vựng cá nhân trong các ứng dụng và thường xuyên ôn tập chúng. Ngoài ra, đánh giá của sinh viên cho thấy việc học từ vựng tiếng Anh thông qua các ứng dụng trực tuyến có hiệu quả trong việc mở rộng vốn từ, ghi nhớ từ mới và củng cố khả năng tiếp thu từ vựng nói chung. Từ những phát hiện này, nghiên cứu khuyến nghị tích hợp các ứng dụng học từ vựng trực tuyến vào chương trình giảng dạy ngoại ngữ, tập trung vào việc nâng cao tự tin của sinh viên khi tự học với các ứng dụng trực tuyến và điều chỉnh các tính năng của ứng dụng nhằm mang lại trải nghiệm học từ vựng cá nhân hóa và hiệu quả hơn.

Nhận thức của sinh viên đối với phản hồi của giáo viên trong môn viết tiếng Anh

Nguyễn Tú Uyên, Nguyễn Thị Bảo Trang
Tóm tắt | PDF (English)
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát nhận thức của sinh viên chuyên ngành tiếng Anh về phản hồi của giáo viên ở các lớp viết ở một trường đại học tư thục tại Việt Nam. Đối tượng tham gia khảo sát bao gồm 25 sinh viên năm thứ nhất và 15 sinh viên năm thứ hai. Dữ liệu được thu thập thông qua bảng hỏi về thái độ của sinh viên đối với các phương pháp phản hồi của giáo viên cho bài viết tiếng Anh của họ. Kết quả nghiên cứu cho thấy sinh viên có nhận thức tích cực về phản hồi của giáo viên và thích giáo viên phản hồi sửa lỗi trực tiếp và toàn diện. Những phát hiện này mang lại ý nghĩa quan trọng cho việc dạy và học viết tiếng Anh.

Nghiên cứu việc sử dụng các ứng dụng trực tuyến để học phát âm tiếng Anh của sinh viên

Phan Đình Bích Thủy, Lê Phạm Hoài Hương
Tóm tắt | PDF (English)
Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu nhận thức và thực hành tự học phát âm tiếng Anh của sinh viên thông qua các ứng dụng trực tuyến. Dữ liệu được thu thập từ 102 sinh viên đang theo học tiếng Anh tại một trường đại học ở Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng bảng hỏi, nhật ký học tập và phỏng vấn để xác định các khó khăn trong phát âm, khám phá việc sử dụng ứng dụng tự học và xem xét tác động của chúng. Kết quả cho thấy sinh viên đã hình thành thói quen học tập thường xuyên, dành nhiều thời gian cho việc sử dụng các ứng dụng này và tham gia vào nhiều hoạt động khác nhau trên các ứng dụng. Họ đánh giá cao phản hồi từ ứng dụng, tích cực áp dụng các gợi ý và thực hành phát âm tiếng Anh trong ngữ cảnh. Kết quả nghiên cứu cũng khẳng định ảnh hưởng tích cực của các ứng dụng phát âm trực tuyến đối với sự tham gia, thái độ, hành vi và sự cải thiện phát âm của người học. Đáng chú ý, sinh viên đã khai thác linh hoạt các tính năng đa dạng của những ứng dụng này, từ đó nâng cao khả năng tự học và kỹ năng phát âm tiếng Anh. Những phát hiện này gợi ý việc kết hợp học phát âm tiếng Anh qua ứng dụng trực tuyến với các phương pháp truyền thống, cũng như phát triển các chương trình đào tạo nhằm tối ưu hóa trải nghiệm học ngôn ngữ thông qua các ứng dụng trực tuyến.

Người phụ nữ trong tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác nhìn từ văn hóa gia đình và trải nghiệm giới

Nguyễn Hữu Minh
Tóm tắt | PDF
Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác là bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ lấy cảm hứng từ cuộc khởi nghĩa của ba anh em nhà Tây Sơn – Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ. Bên cạnh những diễn ngôn về lịch sử, tác giả đã xây dựng thành công hệ thống hình tượng nhân vật nữ, vừa ca ngợi những phẩm chất đẹp đẽ của người phụ nữ, vừa khẳng định vị trí quan trọng của nữ giới trong văn hóa gia đình người Việt. Bằng phương pháp cấu trúc – hệ thống, phương pháp loại hình và phương pháp lịch sử, bài báo này làm rõ hình tượng người phụ nữ từ văn hóa gia đình và những trải nghiệm giới; từ đó góp phần thể hiện sự đối thoại giữa diễn ngôn về người phụ nữ với diễn ngôn nam quyền và diễn ngôn lịch sử.

Một số thể thơ hiếm gặp trong Vĩ Dạ hợp tập của Tuy Lý Vương Miên Trinh

Võ Thị Ngọc Thúy, Trần Thị Thanh Nhị, Nguyễn Lãm Thắng
Tóm tắt | PDF
Bài viết khảo sát một số bài thơ chữ Hán trong tập thơ Vĩ Dạ hợp tập của Tuy Lý Vương Miên Trinh được viết theo những thể thơ hiếm gặp như lục ngôn, tứ tự, tứ thanh, thuận nghịch độc, thủ vĩ ngâm. Qua phân tích một số điểm đáng chú ý về thi luật, về ngôn ngữ nghệ thuật và cách lập ý trong những bài thơ này, bài viết một mặt khẳng định bút pháp điêu luyện của Miên Trinh, mặt khác mở ra một hướng độc đáo trong việc khám phá vẻ đẹp thơ ca Hoàng phái triều Nguyễn từ những thể thơ đặc biệt vốn trước nay ít được chú ý.

Ưu tư và dấn thân hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Thị Hoàng

Dương Ngọc Tố Uyên
Tóm tắt | PDF
Nguyễn Thị Hoàng là một trong những nhà văn nữ tiêu biểu của văn học miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975. Với bà, viết chính là một sự lựa chọn, một cuộc dấn thân, một cách ứng xử hiện sinh dưới góc nhìn người nữ. Cùng với hàng loạt cây bút nữ độc đáo khác, Nguyễn Thị Hoàng nỗ lực xác lập vị trí phái mình trong địa hạt văn chương. Hiện thực trong tiểu thuyết của Nguyễn Thị Hoàng đầy rẫy những phi lý, trống rỗng, bất trắc khiến con người bị đầy vào vũ trụ ưu tư, dự cảm, âu lo. Các nhân vật nữ sống mạnh mẽ, dám yêu, dám đấu tranh, dấn thân trên hành trình khẳng định nhân vị, bất chấp bi kịch hay định kiến xã hội. Đồng thời, họ khám phá bản ngã qua tình yêu và tính dục. Bằng phương pháp cấu trúc – hệ thống, bài báo này tập trung soi chiếu những biểu hiện hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Thị Hoàng qua hai phương diện chính: ưu tư và dấn thân.

Hình tượng Nguyễn Ánh – Gia Long trong tiểu thuyết lịch sử của Trường An

Thái Phan Vàng Anh
Tóm tắt | PDF
Tiểu thuyết lịch sử viết về triều Nguyễn không nhiều. Thế nên, cùng với một số nhà văn như Trần Thùy Mai, Nguyễn Hữu Nam, Trường An gây ấn tượng với độc giả bởi bộ ba tiểu thuyết lịch sử viết về triều Nguyễn là Thiên hạ chi vương, Vũ tịch và Hồ Dương. Chọn kể về Nguyễn Ánh từ điểm nhìn bên ngoài, cả ba tiểu thuyết của Trường An đã góp phần dựng lại chân dung Nguyễn Ánh, từ khi còn là một đứa bé phải trốn chạy để tồn tại, cho đến khi trở thành vị hoàng đế đầu tiên của một đất nước Việt Nam thống nhất. Bài báo này làm rõ hình tượng của Nguyễn Ánh – Gia Long trong tiểu thuyết lịch sử của Trường An qua ba phương diện, tương ứng với ba chặng đời của nhân vật lịch sử Nguyễn Ánh: Noãn – đứa trẻ không được chuẩn bị để làm đế vương, Nguyễn Ánh – kẻ sáng tạo từ những hủy hoại và đổ nát, và Gia Long – vị vua của tham vọng và thách thức.

Lựa chọn luân lý trong truyện ngắn “Muối của rừng” của Nguyễn Huy Thiệp

Nguyễn Anh Dân, Nguyễn Thị Gấm
Tóm tắt | PDF
Mỗi tác phẩm văn học đều hướng đến truyền tải những nội dung tư tưởng và thông điệp nhất định. Ở một góc độ nào đó, “Muối của rừng” là đốn ngộ sinh thái mà Nguyễn Huy Thiệp gửi gắm. Không những vậy, truyện ngắn này còn thể hiện quan niệm đạo đức, luân lý của Nguyễn Huy Thiệp về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Nghiên cứu này sử dụng lý thuyết lựa chọn luân lý (伦理选择 - ethical choice) của phê bình luân lý học văn học (文学伦理学批评 - ethical literary criticism), kết hợp với phê bình sinh thái và phê bình văn học nữ quyền để phân tích lựa chọn luân lý của tác giả - với tư cách nghệ sĩ sáng tạo - và của nhân vật chính trong tác phẩm. Trên cơ sở đó, bài viết làm sáng tỏ các khía cạnh đạo đức, luân lý khác nhau trong “Muối của rừng”.

Hình tượng con người chấn thương trong tiểu thuyết Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín của Nguyễn Một

Trần Linh Tâm
Tóm tắt | PDF
Hình tượng con người chấn thương không chỉ khơi dậy cảm xúc sáng tạo trong tâm hồn của người nghệ sĩ mà còn là sản phẩm của một thời đại lịch sử đầy biến động với những cuộc va chạm ngoài tầm kiểm soát. Vận dụng lý thuyết phê bình chấn thương, bài viết khám phá biểu hiện đa diện của con người trong tiểu thuyết Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín của Nguyễn Một trên tinh thần truy tìm căn nguyên của những chấn thương thời chiến, từ đó có phác đồ “chữa lành” cho con người khi chiến tranh đi qua. Thông qua lăng kính chấn thương, Nguyễn Một không tô hồng, không làm méo mó, không thiên lệch khi viết về chiến tranh theo định kiến “ta thắng địch thua, ta tốt địch xấu” mà từ góc nhìn của sự hoà giải, đối thoại để thấy được sắc thái đa dạng của những chấn thương tinh thần mà con người trong cuộc chiến phải gánh chịu.

Chiến tranh và dịch bệnh trong tiểu thuyết của Huỳnh Trọng Khang

Thái Phan Vàng Anh, Lê Thị Hường
Tóm tắt | PDF
Với ba tiểu thuyết Mộ phần tuổi trẻ, Những vọng âm nằm ngủ và Bể trăng côi, Huỳnh Trọng Khang là một trong số ít những nhà văn sớm khẳng định được vị thế của mình trong dòng chảy của văn học Việt Nam những thập niên đầu thế kỉ XXI khi vừa mới ngoài ba mươi tuổi. Chọn đề tài chiến tranh và dịch bệnh, Huỳnh Trọng Khang tỏ ra rất có bản lĩnh khi “dám” đề cập và nhận diện các vấn đề lớn của nhân loại gắn với những ưu tư hiện sinh và những trầm luân về kiếp sống. Để khám phá những đóng góp về đề tài, thể loại cũng như nhận diện phong cách của nhà văn sinh năm 1994 này trong thành tựu chung của văn học Việt Nam đương đại, bài nghiên cứu này tập trung vào ba vấn đề nổi bật trong tiểu thuyết Huỳnh Trọng Khang: Chiến tranh và dịch bệnh – nỗi đau và thảm họa của loài người; Con người trong chiến tranh và dịch bệnh – đối diện và lựa chọn trước nghịch cảnh; Tự sự về chiến tranh và dịch bệnh – một diễn ngôn về những tồn tại nhân sinh. Tiếp cận từ mỹ học hiện sinh, với các phương pháp loại hình, phương pháp cấu trúc – hệ thống, phương pháp so sánh, bài viết làm rõ cảm quan nghệ thuật, cũng như cá tính sáng tạo của Huỳnh Trọng Khang khi chọn chiến tranh và dịch bệnh làm nền để khám phá các chiều kích thân phận con người.

Dấu ấn văn hoá Việt trong các phương thức dự báo (khảo sát trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam)

Trần Thị Thanh Nhị
Tóm tắt | PDF
Việt Nam không phải là quê hương của Kinh Dịch, tử vi, tướng thuật, trạch cát, chiêm mộng, thuật số…Các phương thức dự báo được các nhà văn sử dụng trong Văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam hầu hết đều được lấy từ Trung Quốc. Khi tiếp nhận, sử dụng chúng trong đời sống, trong văn học, người Việt nói chung, các nhà văn nói riêng không chỉ tiếp nhận mô hình, hình thái của chúng mà đương nhiên chịu sự ảnh hưởng của hệ thống tư tưởng, nguyên lí, cơ sở lí thuyết và cả cách thức lí giải (dựa trên thuyết âm dương ngũ hành, thiên nhân hợp nhất, nhân thể tiểu vũ trụ, thiên nhân cảm ứng, thiên mệnh…). Nếu chỉ quan sát trên bề mặt thì chúng ta chỉ nhìn thấy “bản sắc” Trung Hoa nhưng nếu nhìn dưới “tảng băng trôi” ấy sẽ nhận ra các nhà văn trung đại chỉ vay mượn sử dụng hình thức, mô hình để kiến tạo nên hệ thống dự báo đậm dấu ấn văn hoá gốc nông nghiệp biểu hiện ra trên mấy khía cạnh: 1. Sự xuất hiện tần số cao của nhân tố nữ và nước trong dự báo. 2. Hệ thống động vật và thực vật tiêu biểu cho văn hoá nông nghiệp. 3. Dự báo mang đậm tính bùa phép, ma thuật gắn với văn hoá, truyền thuyết, lịch sử Việt Nam.

Thế giới nhân vật nạn nhân da cam trong tiểu thuyết Hồ đồ của Phùng Văn Khai

Nguyễn Thùy Trang, Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Đình Nhân
Tóm tắt | PDF
Khi viết về chiến tranh và hậu chiến, Phùng Văn Khai đã đề cập đến nạn nhân da cam như một cách thức đối thoại, truy vấn về quá khứ từ nỗi đau con người. Vận dụng phương pháp tiếp cận thi pháp học, kết hợp liên ngành y học, lịch sử và xã hội học, bài báo làm sáng tỏ hệ thống nhân vật đặc thù này, phân tích những biểu hiện thân thể, đời sống tinh thần và giá trị nhân văn mà nhà văn truyền tải qua tiểu thuyết Hồ đồ. Nội dung được triển khai trên các phương diện: (1) phụ nữ với sự ám ảnh và tuyệt vọng trên hành trình sinh nở, hôn nhân; (2) những đứa trẻ vô tội vùng vẫy giữa đột biến gene và khát vọng làm người; (3) người lính ở hai chiến tuyến hướng tới sự hòa giải dân tộc từ bi kịch nhân sinh. Qua đó, bài báo góp phần bổ sung vào nghiên cứu diễn ngôn văn học về hậu quả chiến tranh hóa học, khơi dậy sự đồng cảm xã hội và khẳng định giá trị nhân đạo của tác phẩm.

Bi kịch thân phận người phụ nữ Ấn Độ trong tiểu thuyết Bộ tột cùng hạnh phúc của Arundhati Roy

Phạm Tuấn Anh
Tóm tắt | PDF
Arundhati Roy là nhà văn lớn của văn chương đương đại Ấn Độ. Bà nhận giải Man Booker vào năm 1997, trở thành nhà văn nữ đầu tiên của Ấn Độ vinh dự nhận giải thưởng này. Đến nay, có hai tiểu thuyết của bà đã được dịch, giới thiệu ở Việt Nam: Chúa trời của những chuyện vụn vặt và Bộ tột cùng hạnh phúc. Trong đó, Bộ tột cùng hạnh phúc là tác phẩm vừa được xuất bản, gợi mở nhiều vấn đề để khám phá, tiếp cận. Tác phẩm phục dựng một thế giới rạn nứt, vỡ vụn, đầy rẫy sự hỗn loạn và hoài nghi. A. Roy bộc lộ nỗi lo âu về nhiều vấn đề trong đời sống xã hội, đặc biệt là bi kịch thân phận của người phụ nữ Ấn Độ. Qua bài báo này, người viết tập trung nghiên cứu bi kịch thân phận của người phụ nữ Ấn Độ gắn liền với sự phân biệt về giới tính, đẳng cấp và tôn giáo. Từ đó, người viết khám phá, kiến giải các thông điệp tư tưởng được thể hiện trong tác phẩm.

Không gian hoá thời gian trong tiếng Việt và tiếng Quan thoại: Các từ trục dọc

Lê Thị Cẩm Vân, Trần Thị Huyền Gấm
Tóm tắt | PDF
Bài báo này hướng đến phân tích các từ trục dọc vốn thuộc phạm trù không gian được chuyển nghĩa để biểu đạt thời gian trong tiếng Việt và tiếng Quan Thoại, từ đó chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ trong tư duy và mã hoá thời gian. Kết quả phân tích cho thấy, trong tiếng Quan Thoại, các từ trục dọc dù mang tính trực chỉ hay không cũng chủ yếu tham gia vào quan hệ sớm hơn - muộn hơn, trừ 下 có thêm khả năng biểu đạt quan hệ tuyệt đối; các từ trục dọc trong tiếng Việt chỉ biểu đạt quan hệ sớm hơn - muộn hơn. 上, 中, 下 biểu đạt dòng thời gian trục dọc, tương tự thượng, trung, hạ; trên, dưới, lên, xuống thì không – chúng chỉ biểu đạt sự thay đổi của thời lượng, là khả năng không có với 上, 中, 下; lên vốn là từ trục dọc nhưng biểu đạt dòng thời gian trục ngang. Các từ trục dọc trong cả hai ngôn ngữ đều đi vào các biểu đạt chỉ phân đoạn của thời khoảng qui ước, song tiếng Quan Thoại đa dạng các biểu đạt hơn và chúng vẫn đang được sử dụng rộng rãi trong khi với tiếng Việt, có ít biểu đạt hơn và với ngữ vực hạn chế. Các từ trục dọc cho thấy trục trên - dưới trong không gian được chuyển di để nhận thức quan hệ thời gian sớm hơn - muộn hơn ở cả hai ngôn ngữ. Chúng cũng là biểu đạt của ẩn dụ THỜI GIAN LÀ KHÔNG GIAN, ẩn dụ ĐỊNH HƯỚNG THỜI GIAN với SỚM HƠN LÀ TRÊN, MUỘN HƠN LÀ DƯỚI.

Xung đột hàng hải giữa Anh và Hà Lan nửa sau thế kỷ XVII

Nguyễn Tuấn Bình, Nguyễn Ngọc Diễm Quỳnh, Nguyễn Bình An
Tóm tắt | PDF
Từ buổi đầu thời cận đại, sau khi hoàn thành cuộc cách mạng tư sản trong nước, Hà Lan và Anh từng bước trở thành những cường quốc tư bản đầu tiên ở châu Âu và thế giới. Với ưu thế địa lý, cả hai nước đều ra sức cạnh tranh lẫn nhau nhằm giành lấy vị trí hàng đầu thế giới, trong đó lĩnh vực hàng hải là một trong những nội dung chủ yếu của sự xung đột này. Xung đột về các tuyến đường thương mại và quyền thống trị trên biển nổ ra giữa Anh và Hà Lan ngày càng quyết liệt dẫn đến ba cuộc chiến tranh từ năm 1652 đến năm 1674. Bài viết tập trung phân tích bối cảnh lịch sử và cuộc cạnh tranh hàng hải giữa Anh và Hà Lan nửa sau thế kỷ XVII. Cuộc cạnh tranh giữa hai quốc gia tư sản đầu tiên trên thế giới này đã dẫn đến hệ quả quan trọng là sự suy yếu tương đối của Hà Lan và tạo cơ sở vững chắc cho Anh từng bước vươn lên ngôi vị độc quyền thương mại hàng hải từ đầu thế kỷ XVIII.

Chiến tranh Anh – Hà Lan (1780–1784) và những tác động đối với quan hệ Anh – Hà Lan – Mỹ

Nguyễn Bình An, Nguyễn Ngọc Diễm Quỳnh, Nguyễn Thị Thúy Vy, Nguyễn Phan Nhật Linh
Tóm tắt | PDF
Cuộc chiến tranh Anh - Hà Lan (1780-1784) diễn ra trong bối cảnh căng thẳng chính trị và kinh tế giữa hai quốc gia, chủ yếu xuất phát từ sự hỗ trợ gián tiếp mà Hà Lan dành cho các thuộc địa của Anh ở Bắc Mỹ. Mặc dù chiến tranh chủ yếu diễn ra giữa hải quân hai nước, nhưng nó lại có tác động sâu rộng đến quan hệ ba nước Anh – Hà Lan –  Mỹ. Bài báo khái quát về cuộc chiến tranh Anh - Hà Lan (1780-1784), phân tích những tác động của cuộc chiến tranh này đối với quan hệ Anh – Hà Lan – Mỹ, cũng như sự thay đổi trong các mối quan hệ quốc tế.

Tranh giành độc quyền thương mại của Hà Lan với Bồ Đào Nha ở Macao (1601–1661)

Trần Thị Quế Châu, Lê Thị Quí Đức
Tóm tắt | PDF
Thế kỉ XVI, Hà Lan là cộng đồng thương nhân hùng mạnh bậc nhất trong các mạng lưới hải thương châu Âu. Sau khi thành lập Công ty Đông Ấn (VOC), Hà Lan đã cạnh tranh mạnh mẽ với Bồ Đào Nha nhằm loại bỏ đối thủ để chiếm độc quyền thương mại ở châu Á. Trung Quốc, nơi có nguồn cung hàng hoá dồi dào, đặc biệt là tơ lụa đã trở thành mục tiêu chiến lược của Hà Lan. Sau nhiều nỗ lực thiết lập quan hệ thương mại với Trung Quốc bị chính quyền nhà Minh khước từ, Hà Lan đã hướng tầm nhìn tới Macao như một giải pháp thay thế. Trên quan điểm tiếp cận hệ thống, bài viết sẽ tập trung phân tích bối cảnh tranh giành độc quyền thương mại của Hà Lan với Bồ Đào Nha ở Macao, hoạt động xâm nhập của Hà Lan vào Macao và sự đáp trả của Bồ Đào Nha cũng như gợi mở những tác động của quá trình này đối với vị thế của hai quốc gia trong khu vực những thế kỉ sau đó.

Xung đột Anh – Pháp ở châu Âu (1793–1812): Đặc điểm và hệ quả

Nguyễn Ngọc Diễm Quỳnh, Nguyễn Bình An, Nguyễn Thị Nga
Tóm tắt | PDF
Giai đoạn 1793–1812 là một trong những thời kỳ quyết liệt nhất trong lịch sử quân sự châu Âu thời cận đại, đánh dấu cuộc xung đột kéo dài giữa hai cường quốc Anh và Pháp trong bối cảnh Chiến tranh Cách mạng Pháp và sự trỗi dậy của Napoléon Bonaparte. Cuộc chiến không chỉ mang tính chất quân sự, mà còn phản ánh sự đối đầu sâu sắc về chính trị và ý thức hệ giữa hai mô hình quyền lực. Trong khi Anh kiên định với thể chế quân chủ lập hiến và tận dụng ưu thế hải quân nhằm duy trì hệ thống thuộc địa, thì Pháp theo đuổi lý tưởng cách mạng, dựa vào sức mạnh của lục quân để mở rộng ảnh hưởng trên lục địa châu Âu. Cuộc chiến tranh trên cùng với sự thay đổi nhanh chóng về liên minh và chiến lược đã dẫn tới rất nhiều biến động về địa chính trị tại châu Âu. Hệ quả lớn nhất là việc định hình lại bản đồ chính trị châu Âu và tạo điều kiện cho sự vươn lên của Napoléon sau Hiệp ước Amiens (1802). Xung đột giữa Anh và Pháp trong giai đoạn này không chỉ phản ánh tương quan lực lượng giữa hai cường quốc, mà còn thể hiện sự chuyển biến sâu sắc trong tư duy chiến lược và tổ chức quân đội ở châu Âu đầu thế kỷ XIX. Bài viết nhằm phân tích đặc điểm, bản chất và hệ quả chiến lược của cuộc xung đột, qua đó làm rõ vai trò của nó như một bước ngoặt trong tiến trình hiện đại hóa quân sự và chính trị ở châu Âu thời cận đại.

Cơ sở và những chuyển biến về quan hệ kinh tế Ấn Độ – Philippines trong thập niên cuối thế kỷ XX

Lê Thị Quí Đức, Trần Thị Quế Châu
Tóm tắt | PDF
Ấn Độ và Philippines là các quốc gia cùng nằm ở khu vực châu Á, đều từng là thuộc địa của các nước thực dân phương Tây. Sau khi giành được độc lập, những khác biệt về ý thức hệ với sự nghi ngờ lẫn nhau trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh đã chi phối sâu sắc tình trạng quan hệ Ấn Độ - Philippines. Đến thập niên 1990, Chiến tranh Lạnh kết thúc với sự sụp đổ của Liên Xô đã để lại những khoảng trống kinh tế cho Ấn Độ. Trước bối cảnh đó, với việc triển khai chính sách “Hướng Đông” (Look East Policy - LEP), Ấn Độ đã có những xích lại gần hơn về kinh tế với các nước Đông Nam Á, trong đó có Philippines. Bài viết dưới đây sẽ đi sâu làm rõ cơ sở cũng như biểu hiện của những chuyển biến trong quan hệ kinh tế Philippines - Ấn Độ thập niên cuối thế kỷ XX.

Ảnh hưởng của phong trào chống thuế ở Quảng Nam năm 1908 đến các tỉnh Trung kỳ

Trương Công Huỳnh Kỳ, Lê Thị Hoài Thanh
Tóm tắt | PDF
Trước ách áp bức, bóc lột tàn bạo của thực dân Pháp, nhân dân Đại Lộc (Quảng Nam) đã “nổi dậy” chống thuế. Từ Quảng Nam, “ngọn lửa” chống thuế nhanh chóng lan khắp các tỉnh Trung Kỳ, tạo nên một phong trào đấu tranh mạnh mẽ, quyết liệt với quy mô và phương thức đấu tranh chưa từng có trước đó, làm cho thực dân Pháp và các thế lực tay sai lo sợ. Do vậy, nghiên cứu về ảnh hưởng của phong trào chống thuế ở Quảng Nam đến các tỉnh Trung Kỳ năm 1908 sẽ góp phần nhận diện phong trào yêu nước ở Việt Nam cũng như làm sáng tỏ vị trí, vai trò của Quảng Nam trong sự nghiệp đấu tranh chống thực dân Pháp những năm đầu thế kỷ XX.

Quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – Hàn Quốc: Một số thành tựu và triển vọng (1992–2022)

Trần Như Hiền
Tóm tắt | PDF
Việt Nam chính thức đặt quan hệ ngoại giao với Hàn Quốc vào ngày 22-12-1992. Theo dòng lịch sử của 30 năm hợp tác đó, quan hệ giữa hai nước cũng phát triển nhanh chóng trên nhiều lĩnh vực, trong đó hợp tác kinh tế thương mại giữ vị trí quan trọng và đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Bài báo trên cơ sở phân tích bối cảnh lịch sử dẫn đến mối quan hệ chính thức giữa Việt Nam – Hàn Quốc vào năm 1992, từ đó, Đảng ta đã có những chủ trương điều chỉnh về chính sách đối ngoại trong mối quan hệ với Hàn Quốc trên lĩnh vực kinh tế thương mại, khái quát một số kết quả đạt được về hoạt động thương mại, về lĩnh vực đầu tư, viện trợ ODA... Trên cơ sở đó, rút ra kinh nghiệm lịch sử để vận dụng trong quan hệ hợp tác kinh tế thương mại giữa hai  nước trong thời gian tới.

Đánh giá vai trò của vốn xã hội trong bảo tồn trang phục truyền thống ở huyện A Lưới, thành phố Huế

Mai Văn Chân, Nguyễn Hoàng Sơn, Lê Phúc Chi Lăng, Nguyễn Ngọc Đàn, Trần Thị Cẩm Tú, Cao Thị Hoa, Cao Thị Thanh Thủy
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này đánh giá vai trò của vốn xã hội trong bảo tồn trang phục truyền thống tại huyện A Lưới, thành phố Huế với ba thành phần chính: Mạng lưới xã hội (ML), lòng tin (LT) và chuẩn mực xã hội (CM). Dữ liệu từ 150 người dân thuộc 3 dân tộc (Tà Ôi, Cơ Tu, Kinh) được thu thập qua bảng 30 câu hỏi dùng thang Likert 5 điểm, phân tích bằng phương pháp nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy tuyến tính. Kết quả cho thấy cả ba thành phần vốn xã hội đều ảnh hưởng đáng kể đến ý định bảo tồn, trong đó chuẩn mực xã hội có tác động mạnh nhất. Dân tộc Tà Ôi và Cơ Tu phụ thuộc nhiều vào mạng lưới xã hội và lòng tin, trong khi nhóm dân tộc Kinh ít bị ảnh hưởng bởi lòng tin. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp như tăng cường hoạt động cộng đồng, giáo dục văn hóa, liên kết thị trường… để thúc đẩy bảo tồn trang phục truyền thống trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Hiện trạng và giải pháp phát triển mô hình du lịch farmstay ở thành phố Huế

Bạch Thị Ngọc Trà, Lê Minh Thông, Ngô Quốc Vũ, Ngô Thị Thủy Tiên, Trần Thị Cẩm Tú
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này nhằm nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển mô hình du lịch Farmstay tại thành phố Huế, một loại hình du lịch nông nghiệp khá mới nhưng giàu tiềm năng. Dựa trên cơ sở lý thuyết và phân tích dữ liệu sơ cấp từ phỏng vấn 80 người (66 khách du lịch, 14 chủ Farmstay và người lao động), kết quả nghiên cứu cho thấy việc tổ chức hoạt động du lịch Farmstay tại thành phố Huế chưa thật sự hiệu quả, quy mô nhỏ, hoạt động không thường xuyên, doanh thu và số lượt khách du lịch chưa cao. Từ thực trạng, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hiệu quả loại hình du lịch này tại thành phố Huế trong tương lai.

Vận dụng tri thức bản địa trong mô hình sinh kế nông nghiệp ở xã A Ngo, huyện A Lưới

Lê Phúc Chi Lăng, Nguyễn Hoàng Sơn, Mai Văn Chân, Nguyễn Ngọc Đàn, Nguyễn Thị Minh Hương, Lê Thị Chiên
Tóm tắt | PDF
Bài báo tập trung làm rõ vai trò và giá trị của tri thức bản địa trong việc phát triển các mô hình sinh kế nông nghiệp tại xã A Ngo, huyện A Lưới – nơi sinh sống chủ yếu của đồng bào dân tộc thiểu số Tà Ôi và Pa Cô. Từ những điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội và văn hóa của địa phương, nhận diện một số loại hình tri thức bản địa có khả năng ứng dụng cao vào thực tiễn sản xuất. Trên cơ sở khảo sát thực tế và tham vấn cộng đồng, bài viết đề xuất năm mô hình sinh kế phù hợp gồm: nuôi bò thịt, chăn nuôi lợn hữu cơ, trồng rau sạch, trồng cây Đoác, Đùng đình làm rượu và trồng cây dược liệu. Việc tích hợp tri thức bản địa vào các mô hình này được xem là hướng đi bền vững, vừa giúp tăng thu nhập, bảo vệ tài nguyên và góp phần bảo tồn văn hóa trong phát triển nông thôn miền núi.

Nghiên cứu đề xuất các mô hình nông nghiệp xanh ngành chăn nuôi ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế

Nguyễn Ngọc Đàn, Nguyễn Hoàng Sơn, Mai Văn Chân, Trần Thị Minh Tâm, Cao Thị Thanh Thủy
Tóm tắt | PDF
Hiện nay, các hoạt động chăn nuôi tại huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế đã có nhiều thay đổi tích cực như chuyển từ chăn nuôi thả rông sang chăn nuôi có kiểm soát, chú trọng đến thực phẩm an toàn, chăn nuôi hữu cơ. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều phương thức truyền thống lạc hậu, quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ, thiếu bền vững. Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp điều tra xã hội học, phỏng vấn bán cấu trúc, đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội – môi trường dựa trên bộ chỉ tiêu định lượng và phân tích SWOT để đánh giá hiệu quả của các mô hình nông nghiệp ngành chăn nuôi hiện có phục vụ cho việc đề xuất các mô hình nông nghiệp xanh ngành chăn nuôi một cách bền vững cho địa phương. Kết quả đã đề xuất được các mô hình nông nghiệp xanh ngành chăn nuôi với 3 mô hình chủ lực và 3 mô hình chăn nuôi tiềm năng phù hợp với điều kiện sinh thái của địa phương.

Chiến lược khai thác sách giáo khoa ngữ văn trong dạy học đọc hiểu văn bản

Lê Thị Ngọc Anh, Nguyễn Thị Hạnh Thủy
Tóm tắt | PDF
Chương trình giáo dục phổ thông 2018 mở ra nhiều cơ hội đổi mới, trong đó có vấn đề sử dụng sách giáo khoa. Thay vì tuân thủ, GV và HS sử dụng sách một cách chủ động và sáng tạo nhằm đáp ứng tối ưu mục tiêu dạy học và tích cực hoá, cá thể hoá được người dạy, người học. Trong phạm vi bài báo, trên cơ sở các tiền đề lí luận về đặc điểm, vai trò của sách giáo khoa nói chung và tiếp cận thực tiễn về những đặc điểm (điểm mới) của sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành nói riêng, chúng tôi đề xuất các biện pháp khai thác sách giáo khoa Ngữ văn cụ thể như:(1) Khai thác mạch tích hợp của sách giáo khoa để tổ chức dạy đọc theo 3 giai đoạn; (2) Khai thác hệ thống chỉ dẫn trong sách giáo khoa để lựa chọn phương pháp - kĩ thuật - phương tiện dạy học; (3) Khai thác hệ thống thẻ đọc hỗ trợ rèn luyện kĩ năng đọc; (4) Khai thác hệ thống câu hỏi đọc hiểu định hướng tổ chức hoạt động đọc thành tiếng, đọc chi tiết văn bản. Những chiến lược này đánh dấu sự chuyển đổi từ việc sử dụng máy móc sang sự tương tác sáng tạo với sách giáo khoa, qua đó nâng cao cả hiệu quả dạy và học cá nhân hóa.

Thiết kế các vấn đề thực tế trong dạy học toán ở trường trung học phổ thông

Tạ Thị Minh Phương, Hồ Thị Minh Phương, Hà Thị Ngọc Diệp
Tóm tắt | PDF
Giáo dục toán gắn liền với thực tiễn là xu hướng mà chương trình giáo dục phổ thông đang hướng đến. Tuy nhiên, các vấn đề thực tế được đưa vào trong mỗi tiết học toán vẫn còn hạn chế, điều này dẫn đến học sinh không thấy được sự kết nối giữa toán học trong nhà trường với thực tiễn cuộc sống. Việc thiết kế các vấn đề thực tế sẽ giúp cho học sinh tham gia vào giải quyết vấn đề một cách tích cực và yêu thích môn học hơn. Bài báo này trình bày một số cách thiết kế và các mức độ sử dụng vấn đề thực tế trong những hoạt động của tiến trình dạy học. Chúng tôi cũng đề xuất một số ví dụ và minh họa sử dụng quy trình mô hình hóa của Galbraith (1995) để giải quyết một vấn đề thực tế. Hơn nữa, việc tích hợp các vấn đề thực tế vào lớp học sẽ được thảo luận.

Vận dụng dạy học vi mô trong rèn luyện kỹ năng tổ chức dạy học thí nghiệm cho sinh viên ngành giáo dục tiểu học

Dương Thị Minh Hoàng
Tóm tắt | PDF
Giáo dục là hạt giống của tương lai, và giáo viên chính là người vun trồng, chăm sóc hạt giống đó. Để đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội, việc đào tạo giáo viên trở thành một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng. Trong quá trình đào tạo đó, người học không chỉ được truyền đạt kiến thức mà còn được rèn luyện các kỹ năng dạy học và kỹ năng tổ chức dạy học thí nghiệm là một trong số đó. Bài báo này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng tổ chức dạy học thí nghiệm, đồng thời đưa ra quy trình vận dụng dạy học vi mô trong quá trình rèn luyện kỹ năng này như một giải pháp hiệu quả với 6 bước: (1) chuẩn bị, (2) thị phạm hoạt động thực hiện kỹ năng tổ chức dạy học thí nghiệm trong giờ dạy môn Tự nhiên và Xã hội hoặc môn Khoa học, (3) thu hoạch cá nhân, (4) thảo luận, (5) chuẩn hóa kiến thức về kỹ năng tổ chức dạy học thí nghiệm, (6) vận dụng. Bên cạnh đó, bài báo còn đề xuất rubric đánh giá kỹ năng tổ chức dạy học thí nghiệm nhằm hỗ trợ hiệu quả cho người dạy trong quá trình rèn luyện kỹ năng này cho sinh viên.

Biện pháp giáo dục tích hợp liên môn thông qua dạy học mạch kiến thức hình học và đo lường ở lớp 3

Nguyễn Thị Kim Thoa, Phạm Thị Thiên Hương
Tóm tắt | PDF
Một trong bốn quan điểm xây dựng chương trình môn Toán 2018 được nhấn mạnh là phải bảo đảm tính tích hợp và phân hoá. Mục tiêu chung của chương trình giáo dục phổ thông (CT GDPT) môn Toán có đề cập đến việc phát triển khả năng giải quyết vấn đề có tính tích hợp liên môn giữa môn Toán và các môn học khác. Thực tế chỉ ra rằng, bên cạnh những thuận lợi thì giáo viên (GV) cũng gặp nhiều khó khăn trong tổ chức dạy học tích hợp liên môn (DHTHLM), cụ thể như dạy học mạch kiến thức Hình học và Đo lường ở tiểu học nói chung và lớp 3 nói riêng như thế nào để thể hiện được quan điểm tích hợp liên môn này. Bài viết tập trung điểm bình về thực trạng dạy học tích hợp liên môn trong mạch kiến thức Hình học và Đo lường lớp 3, từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng tổ chức DHTHLM cho GV tiểu học.

Đánh giá hiệu quả thực nghiệm ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dạy học môn Địa lý trung học phổ thông

Nguyễn Thị Hiển, Cao Thị Hoa, Lê Minh Thông, Bùi Thị Thu My
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá hiệu quả của việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong dạy học môn Địa lí Trung học phổ thông (THPT). Thiết kế nghiên cứu kiểm tra đánh giá sau tác động được áp dụng trên 2 nhóm học sinh: nhóm thực nghiệm sử dụng AI hỗ trợ dạy học và nhóm đối chứng không sử dụng AI. Đối tượng là 154 học sinh lớp 10 và lớp 11 của Trường THPT Hương Vinh (Huế) và Trường THPT Trần Cao Vân (Quảng Nam). Phân tích dữ liệu định lượng bằng SPSS 26.0 cho thấy điểm trung bình nhóm thực nghiệm cao hơn lớp đối chứng, đồng thời giá trị Sig.=0,000 (p < 0.001) cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Kết quả khảo sát định tính thể hiện thái độ tích cực của học sinh đối với việc sử dụng AI trong giảng dạy, giúp tăng cường sự hứng thú và hiệu quả học tập. Nghiên cứu góp phần chứng minh tính khả thi và hiệu quả của công nghệ AI trong đổi mới phương pháp dạy học môn Địa lí THPT.

Ảnh hưởng của thời gian thu nhận và các tác nhân tủa đến hiệu quả tinh sạch sơ bộ enzyme protease trích ly từ chủng Bacillus sp.

Phùng Thị Bích Hòa, Ngô Đức Quốc, Hồ Thị Diệu Hiền, Đinh Thị Hòa
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này nhằm xác định các điều kiện tối ưu để thu nhận và tinh sạch sơ bộ enzyme protease từ chủng Bacillus sp.. Protease được thu nhận từ dịch nuôi cấy ở các thời điểm khác nhau (12–96 giờ sau lên men) nhằm đánh giá ảnh hưởng của thời gian nuôi cấy đến hoạt tính enzyme. Bên cạnh đó, hiệu quả của các phương pháp kết tủa khác nhau cũng được khảo sát, bao gồm sử dụng ethanol và acetone ở các tỷ lệ (dịch trích: dung môi) 1:2, 1:3 và 1:4 (v/v), cũng như kết tủa bằng ammonium sulfate ở các nồng độ bão hòa từ 30% đến 80%. Kết quả cho thấy, thời điểm 72 giờ sau nuôi cấy là tối ưu cho việc thu nhận protease, cho hoạt độ enzyme đạt mức cao nhất (660,4 U/mL). Trong các phương pháp tinh sạch sơ bộ được khảo sát, kết tủa bằng ammonium sulfate ở nồng độ bão hòa 70% cho hiệu suất thu hồi enzyme cao nhất (62,38%) và duy trì hoạt tính enzyme vượt trội so với các điều kiện còn lại. Những kết quả này cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho việc phát triển quy trình sản xuất protease hiệu quả từ Bacillus sp..

Khảo sát khả năng sinh enzyme ngoại bào của Bacillus spp. phân lập ở Phá Tam Giang, Thừa Thiên Huế

Lê Ngọc Sương, Đặng Thị Thúy Ngọc, Lâm Giang Hồng Phúc, Nguyễn Thị Kim Cơ
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích khảo sát khả năng sinh enzyme ngoại bào gồm protease, amylase, lipase và cellulase của các chủng vi khuẩn Bacillus spp. được phân lập từ 04 mẫu nước thu được tại phá Tam Giang, Thừa Thiên Huế. Thông qua sàng lọc đặc điểm hình thái khuẩn lạc và một số chỉ tiêu sinh hóa, 25/52 chủng vi khuẩn đã phân lập được xác định sơ bộ thuộc chi Bacillus để tiến hành đánh giá khả năng sinh enzyme ngoại bào của chúng. Kết quả sàng lọc đã tuyển chọn được bốn chủng vi khuẩn Bacillus spp. bao gồm BS03.05, BS03.07, BS04.01 và BS04.05 có khả năng sản sinh tất cả các enzyme khảo sát thông qua hoạt tính phân giải các cơ chất là gelatin, tinh bột, CMC và dầu olive (nhũ hóa trong đệm PBS). Kết quả ghi nhận chủng BS01.05 có khả năng sinh enzyme protease và lipase mạnh nhất với đường kính vòng phân giải cơ chất là 20,00 mm cho cả hai loại enzyme; trong khi đó, hoạt tính amylase và cellulase được ghi nhận cao nhất ở chủng BS03.05 với đường kính vòng phân giải cơ chất đo được lần lượt là 8,33 mm và 19,00 mm.

Nghiên cứu ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trưởng BAP và α-NAA đến tỷ lệ sống và chất lượng hom giống cây thiên niên kiện (Homalomena occulta) tại Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

Nguyễn Thị Quỳnh Trang, Nguyễn Huỳnh Yến Thảo, Đặng Thị Nhung, Bùi Thị Tuyết Anh, Nguyễn Hoàng Nhật Minh, Vương Thị Yến Nhi, Phạm Thành
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu nhân giống vô tính Thiên niên kiện (Homalomena occulta) tại huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế cho thấy: sử dụng nồng độ 50 đến 200 ppm của cả BAP và α-NAA đều cho ảnh hưởng tích cực đến quá trình kích thích hom giống Thiên niên kiện so với đối chứng. Trong đó, xử lý BAP cho hiệu quả cao hơn so với α-NAA. Đặc biệt, công thức 100 ppm BAP cho kết quả tối ưu nhất về hầu hết các chỉ tiêu nghiên cứu như tỷ lệ sống (94,21%), tỷ lệ ra rễ (99,63%) và số chồi (1,86 chồi/hom), chiều cao chồi (6,20 cm/chồi), số lá (3,01 lá/chồi), chiều dài rễ (14,04 cm/rễ), tiếp theo là các công thức xử lý BAP và α-NAA ở các nồng độ 150 ppm, 50 ppm và thấp nhất là công thức ở nồng độ 200 ppm. Cây giống được xử lý hai chất kích thích sinh trưởng trong vườn ươm từ 75-100 ngày đều đủ điều kiện xuất vườn với tỷ lệ 62,40-94,85%.

Nghiên cứu thành phần loài thân mềm chân bụng (Mollusca: Gastropoda) ở vùng ven biển Thừa Thiên Huế

Trần Văn Giang, Nguyễn Thị Hảo, Trần Thụy Cẩm Hà, Nguyễn Hoàng Nhật Minh, Trương Công Hội, Nguyễn Thị Lộc, Phạm Đình Vĩnh Khang
Tóm tắt | PDF
Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu về thành phần loài thân mềm chân bụng (Mollusca: Gastropoda) tại vùng ven biển Thừa Thiên Huế, được thực hiện từ tháng 2/2024 đến tháng 12/2024. Nghiên cứu đã ghi nhận 21 loài thuộc 19 giống, 13 họ và 2 phân lớp Caenogastropoda và Vetigastropoda, trong đó Caenogastropoda chiếm ưu thế với 20 loài. Phân bố loài thể hiện sự khác biệt rõ rệt giữa các khu vực nghiên cứu. Thuận An là nơi đa dạng nhất với 11 loài nhờ môi trường sống giàu dinh dưỡng và đa dạng. Bình An ghi nhận 9 loài, tập trung ở rạn san hô và nền đáy rắn, trong khi Lăng Cô chỉ có một loài (N. Robustum), phản ánh sự hạn chế về môi trường sống và ảnh hưởng tiêu cực từ hoạt động nhân sinh. Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin quan trọng cho việc bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý tài nguyên biển tại Thừa Thiên Huế.

Đa dạng thân mềm chân bụng (Mollusca: Gastropoda) tại phường Phú Xuân, thành phố Huế

Nguyễn Hoàng Nhật Minh, Trương Công Hội, Nguyễn Thị Minh Phước, Đặng Thị Nhung, Nguyễn Thị Cẩm Tú, Nguyễn Quang Sang, Trần Thụy Cẩm Hà, Nguyễn Thanh Bình
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá đa dạng thân mềm chân bụng (Mollusca: Gastropoda) tại phường Phú Xuân, thành phố Huế. Các chỉ tiêu nghiên cứu gồm thành phần loài, độ phong phú, mật độ phân bố của các loài trong quần thể và chỉ số đa dạng sinh học (H’) giữa các khu vực. Kết quả đã ghi nhận được 13 loài thuộc 8 họ và 2 phân lớp chính (Heterobranchia và Caenogastropoda) tại ba khu vực nghiên cứu. Trong đó khu vực ngoại vi Hoàng Thành thu được 8 loài với chỉ số đa dạng sinh học H′ = 1,92, khu vực bên trong Hoàng Thành thu được 9 loài với H′ = 1,95 và khu vực sông Ngự Hà thu được 8 loài với H′ = 2,03. Các loài Basedowena vulgata và Angulyagra polyzonata chiếm ưu thế về độ phong phú và mật độ tại khu vực Hoàng Thành và ngoại vi Hoàng Thành, trong khi loài Filopaludina martensi chiếm ưu thế ở khu vực sông Ngự Hà. Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận thêm 4 loài cho nội địa thành phố Huế. Nghiên cứu cung cấp nền tảng dữ liệu quan trọng cho định hướng bảo tồn và quản lý tài nguyên Thân mềm tại khu vực thành phố Huế.

Nghiên cứu khả năng hấp phụ Arsenazo (III) và xanh methylen trong dung dịch nước bằng xơ dừa đã qua xử lý

Võ Văn Tân, Lê Võ Triệu Vy, Nguyễn Phạm Thanh Nga, Lê Hữu Đức, Nguyễn Uyên Vy, Trần Xuân Nghĩa
Tóm tắt | PDF
Arsenazo (III) và xanh methylene trong dung dịch nước đã được hấp phụ bằng vật liệu xơ dừa xử lý với dung dịch HCl; HNO3; NaOH. Vật liệu hấp phụ tốt nhất là xơ dừa xử lý bằng dung dịch HNO3 0,1 M với thời gian ngâm là 30 phút. Hiệu suất hấp phụ xanh methylene của vật liệu này là 92%. Bên cạnh đó, vật liệu xơ dừa xử lý bằng dung dịch HNO3 0,1 M cũng cho thấy khả năng hấp phụ arsenazo (III) rất tốt, với hiệu suất hấp phụ arsenazo (III) là 96%, dung lượng hấp phụ cực đại là 25,20 mg/g và tuân theo phương trình đẳng nhiệt hấp phụ Langmuir. Nghiên cứu này, chứng minh tiềm năng ứng dụng của vật liệu từ xơ dừa với giá thành thấp, thân thiện môi trường trong xử lý các chất gây ô nhiễm.

Nghiên cứu các tính chất phi cổ điển của trạng thái dịch chuyển Fock đơn mode

Trương Minh Đức, Đỗ Chính Hạp
Tóm tắt | PDF
Trong bài báo này, chúng tôi nghiên cứu các tính chất phi cổ điển của trạng thái dịch chuyển Fock đơn mode, đó là tính chất nén Hillery, tính chất nén Hong-Mandel, và tính thống kê sub-Poisson bậc thấp và bậc cao. Kết quả khảo sát cho thấy trạng thái dịch chuyển Fock đơn mode không thể hiện tính chất nén Hillery bậc thấp và bậc cao nhưng lại thể hiện tính chất nén Hong-Mandel bậc cao. Hơn nữa, trạng thái này thể hiện tính chất thống kê sub-Poisson cả ở bậc thấp và bậc cao tương ứng với số hạt trong trạng thái Fock n ≥ 1. Như vậy, trạng thái dịch chuyển Fock đơn mode là một trạng thái phi cổ điển và các tính chất phi cổ điển của chúng được thể hiện tương đối rõ ràng.

Vai trò của thế bậc hai trong mô hình thế quang học vi mô

Trần Viết Nhân Hào, Đỗ Quang Tâm, Nguyễn Cao Bảo Duy, Đặng Phước Đức
Tóm tắt | PDF
Trong nghiên cứu này chúng tôi đánh giá vai trò của thế bậc hai trong mô hình thế quang học vi mô cho tán xạ đàn hồi neutron lên các bia hạt nhân. Cụ thể, chúng tôi sử dụng phương pháp trường trung bình tự hợp áp dụng lên mô hình thế quang học vi mô để đánh giá thế hấp thụ bậc hai cho các hạt nhân có số khối từ nhẹ, trung bình đến nặng như 16O, 40Ca, 48Ca và 208Pb. Kết quả tính toán cho thấy đối với hạt nhân nhẹ 16O, thế bậc hai tồn tại ở dải năng lượng từ 9 - 22 MeV. Đối với hạt nhân 40Ca, thế bậc hai xuất hiện khi năng lượng neutron tới lớn hơn 20 MeV. Thế bậc hai ở hạt nhân 48Ca xuất hiện ngay ở năng lượng thấp. Đối với hạt nhân nặng 208Pb, thế bậc hai có hiệu ứng nhỏ. Từ đó kết luận rằng, độ lớn của thế bậc hai tăng theo năng lượng hạt neutron tới và phụ thuộc vào hạt nhân bia.