Nguyễn Thị Quỳnh Trang * , Nguyễn Huỳnh Yến Thảo , Đặng Thị Nhung , Bùi Thị Tuyết Anh , Nguyễn Hoàng Nhật Minh , Vương Thị Yến Nhi Phạm Thành

* Người chịu trách nhiệm về bài viết: (nguyenthiquynhtrang@dhsphue.edu.vn)

Abstract

The study on the clonal propagation of Homalomena occulta in the nursery in Phong Dien district, Thua Thien Hue province shows that using concentrations of 50 to 200 ppm of both BAP and α-NAA has a positive effect on the stimulation of Homalomena occulta propagules compared to the control. Among these, BAP treatment showed higher effectiveness compared to α-NAA. Specifically, the formula with 100 ppm BAP yielded the most optimal results for almost all research criteria such as survival rate (94.21%), rooting rate (99.63%), number of shoots (1.86 shoots/propagule), shoot height (6.20 cm/shoot), number of leaves (3.01 leaves/shoot), and root length (14.04 cm/root). This was followed by the treatments with BAP and α-NAA at concentrations of 100, 150 ppm, 50 ppm, and the lowest was the formula at a concentration of 200 ppm. Seedlings treated with both growth stimulants in the nursery for 75-100 days were ready for outplanting with a survival rate of 62.40-94.85%.
Keywords: Growth regulators, Cuttings, Clonal propagation, Homalomena occulta

Tóm tắt

Nghiên cứu nhân giống vô tính Thiên niên kiện (Homalomena occulta) tại huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế cho thấy: sử dụng nồng độ 50 đến 200 ppm của cả BAP và α-NAA đều cho ảnh hưởng tích cực đến quá trình kích thích hom giống Thiên niên kiện so với đối chứng. Trong đó, xử lý BAP cho hiệu quả cao hơn so với α-NAA. Đặc biệt, công thức 100 ppm BAP cho kết quả tối ưu nhất về hầu hết các chỉ tiêu nghiên cứu như tỷ lệ sống (94,21%), tỷ lệ ra rễ (99,63%) và số chồi (1,86 chồi/hom), chiều cao chồi (6,20 cm/chồi), số lá (3,01 lá/chồi), chiều dài rễ (14,04 cm/rễ), tiếp theo là các công thức xử lý BAP và α-NAA ở các nồng độ 150 ppm, 50 ppm và thấp nhất là công thức ở nồng độ 200 ppm. Cây giống được xử lý hai chất kích thích sinh trưởng trong vườn ươm từ 75-100 ngày đều đủ điều kiện xuất vườn với tỷ lệ 62,40-94,85%.
Từ khóa: Chất điều hòa sinh trưởng, Hom giâm, Nhân giống vô tính, Thiên niên kiện

Article Details

Tài liệu tham khảo

Bogner, J., & Nguyen, V. D. (2008). A new Homalomena species (Araceae) from Vietnam. Willdenowia, 38(2), 527–531.

Đỗ, T. L. (2006). Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. Nhà xuất bản Y học.

Nguyễn, K. T. L., Nguyễn, Đ. Q. P., Đoàn, Q. T., & Trần, T. N. T. (2023). Nghiên cứu đặc điểm thực vật và hoạt tính sinh học của cây thiên niên kiện lá lớn (Homalomena pendula). Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Thái Nguyên, 228(9), 192–199.

Raomai, S., Kumaria, S., & Tandon, P. (2013). In vitro propagation of Homalomena aromatica Schott., an endangered aromatic medicinal herb of Northeast India. Physiology and Molecular Biology of Plants, 19, 297–300.

Stanly, C., Bhatt, A., Sulaiman, B., & Keng, C. L. (2012). Micropropagation of Homalomena pineodora Sulaiman & Boyce (Araceae): A new species from Malaysia. Horticultura Brasileira, 30, 39–43.

Xie, X. Y., Wang, R., & Shi, Y. P. (2012). Sesquiterpenoids from the rhizomes of Homalomena occulta. Planta Medica, 78(10), 1010–1014.

Yang, J. L., Dao, T. T., Tran, H. T., Zhao, Y. M., & Shi, Y. P. (2019). Further sesquiterpenoids from the rhizomes of Homalomena occulta and their anti-inflammatory activity. Bioorganic & Medicinal Chemistry Letters, 29(10), 1162–1167.

Ye, J., Yin, P., & Xiao, M. T. (2017). New aromatic compounds from the rhizomes of Homalomena occulta. Phytochemistry Letters, 21, 57–60.