Ngày xuất bản: 20-08-2022
Tạp chí Khoa học và Giáo dục: Khoa học Tự nhiên – Công nghệ
CÔNG SUẤT NHIỆT-TỪ TRONG HỆ WS2 ĐƠN LỚP
Tóm tắt
|
PDF
Trong bài báo này chúng tôi khảo sát ảnh hưởng của từ trường, nhiệt độ và nồng độ electron lên công suất nhiệt-từ gây ra bởi hiệu ứng phonon kéo (phonon-drag), Sxxg , trong hệ WS2 đơn lớp. Biểu thức giải tích của được thu nhận từ phương pháp-Π. Kết quả tính số cho thấy rằng Sxxg dao động theo từ trường với cường độ dao động tăng lên khi từ trường tăng. Sxxg tăng đơn điệu theo nhiệt độ nhưng giảm theo nồng độ electron. Kết quả tính số cho Sxxg được so sánh với kết quả thu được trong graphene đơn lớp.
HẤP THỤ QUANG-TỪ TRONG BOROPHENE ĐƠN LỚP DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA TƯƠNG TÁC ĐIỆN TỬ PHONON
Tóm tắt
|
PDF
Chúng tôi khảo sát hệ số hấp thụ sóng điện từ trong borophene đơnlớp khi đặt trong từ trường tĩnh vuông góc và một sóng điện từ. Hệ số hấp thụphi tuyến được tính bằng lý thuyết nhiễu loạn khi xét đến tương tác điện tửphonon quang. Phổ hấp thụ cho thấy sự xuất hiện các đỉnh cộng hưởng từ-phonondò tìm bằng quang học tuyến tính (hấp thụ một photon) và phi tuyến (hấp thụhai photon). Độ rộng phổ của các đỉnh cộng hưởng tăng theo căn bậc hai của từtrường và hầu như không thay đổi theo nhiệt độ. Quá trình hấp thụ hai photonđóng góp vào phổ hấp thụ nhỏ hơn nhiều so với quá trình hấp thụ một photonnhưng có thể thấy rõ và không thể bỏ qua khi nghiên cứu các quá trình quangphi tuyến. Các kết quả trên là cơ sở cho các nghiên cứu ứng dụng của vật liệumới borophene trong việc chế tạo các thiết bị quang-điện tử nano.
TỔNG HỢP VÀ HOẠT TÍNH XÚC TÁC CỦA COMPOSITE CuO/ZnO/C TRÊN CƠ SỞ VẬT LIỆU ZIF-7 DOPING Cu(II)
Tóm tắt
|
PDF
Trong bài báo này, composite CuO/ZnO/C được tổng hợp bằng phương pháp nhiệt phân trên cơ sở vật liệu ZIF-7 doping Cu(II). Ảnh hưởng của nhiệt độ nung đến thành phần pha của composite cũng đã được khảo sát. Vật liệu tổng hợp được đặc trưng cấu trúc và tính chất bằng các phương pháp: nhiễu xạ tia X (XRD) và phổ tán sắc năng lượng tia X (EDX). Kết quả cho thấy nhiệt độ nung ảnh hưởng đến thành phần pha của vật liệu tổng hợp. Composite CuO/ZnO/C hình thành tối ưu ở 500 °C. Ở nhiệt độ nung cao hơn, một phần CuO sẽ chuyển thành Cu2O và Cu. Khả năng hấp phụ và quang xúc tác của composite CuO/ZnO/C tổng hợp cũng được đánh giá. Kết quả thực nghiệm cho thấy vật liệu composite cải thiện hoạt tính hấp phụ rhodamine B so với ZIF-7 (tăng hơn 2 lần). Bên cạnh đó, vật liệu CuO/ZnO/C cũng thể hiện được hoạt tính quang xúc tác phân huỷ rhodamine B dưới tác dụng của ánh sáng nhìn thấy.
NGHIÊN CỨU VỀ KHẢ NĂNG CHỐNG OXY HÓA CỦA 5-AMINO-1-NAPHTHOL THEO CƠ CHẾ CHUYỂN NGUYÊN TỬ HYDRO
Tóm tắt
|
PDF
Lý thuyết phiếm hàm mật độ đã được sử dụng để nghiên cứu khả năng chống oxy hóa của 5-amino-1-naphthol (NH2C10H6OH) trong phản ứng với gốc tự do HOO•. Phản ứng theo cơ chế chuyển nguyên tử hydro đã được khảo sát ở ba vị trí N17-H18, N17-H19 và O20-H21 ở mức lý thuyết wb97xd/6-311++g(d,p). Kết quả cho thấy rằng O20-H21 được đánh giá là vị trí chuyển hydro được ưu tiên nhất với tốc độ phản ứng là 3,6×105 M-1s-1. Phản ứng có giá trị hiệu ứng nhiệt là -5,6 kcal.mol-1 và năng lượng tự do Gibbs -6,4 kcal.mol-1. Điều này chứng tỏ phản ứng giữa HOO• và 5-amino-1-naphthol là quá trình tỏa nhiệt và tự diễn biến.
TỔNG HỢP VÀ ĐẶC TRƯNG VẬT LIỆU Fe-ZIF-11
Tóm tắt
|
PDF
Trong bài báo này, vật liệu Fe-ZIF-11 được tổng hợp từ zinc acetate, iron(III) chloride và benzimidazole ở nhiệt độ phòng. Vật liệu tổng hợp được đặc trưng cấu trúc và tính chất bằng các phương pháp phổ tán xạ năng lượng tia X (EDX), nhiễu xạ tia X (XRD), phổ hồng ngoại (FTIR) và hiển vi điện tử quét (SEM). Vật liệu tổng hợp cũng được thăm dò khả năng hấp phụ. Kết quả cho thấy vật liệu Fe-ZIF-11 tổng hợp là những tinh thể đa diện đồng đều, kích thước tinh thể cỡ mm. Ion iron đã được phân tán vào cấu trúc của vật liệu. Vật liệu Fe-ZIF-11 cải thiện đáng kể khả năng hấp phụ rhodamine B so với ZIF-11. Dung lượng hấp phụ RhB của Fe-ZIF-11 tăng hơn 2,2 lần so với ZIF-11.
NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP PHỨC CHẤT CỦA La(III), Ce(III), Nd(III), Y(III) VỚI AXIT CITRIC VÀ ỨNG DỤNG LÀM PHÂN BÓN VI LƯỢNG CHO HOA RẠNG ĐÔNG
Tóm tắt
|
PDF
Phức chất của La(III), Ce(III), Nd(III), Y(III) với axit citric đã được tổng hợp ở các điều kiện tối ưu của thời gian phản ứng, nhiệt độ, tỉ lệ các chất tham gia phản ứng và pH môi trường. Các phức chất tổng hợp được đặc trưng bằng phổ hồng ngoại IR, hiển vi điện tử quét SEM và đồng thời tiến hành ứng dụng làm phân bón vi lượng cho cây hoa rạng đông (Pyrostegia venusta) cho nhiều kết quả khả quan.
ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN ĐẾN CẤU TRÚC VẬT LIỆU ZIF-11 TỔNG HỢP Ở NHIỆT ĐỘ PHÒNG
Tóm tắt
|
PDF
Trong bài báo này, vật liệu ZIF-11 được tổng hợp từ benzimidazole và zinc acetate ở nhiệt độ phòng. Ảnh hưởng của thời gian tổng hợp đến cấu trúc ZIF-11 đã được đánh giá. Các mẫu vật liệu tổng hợp được đặc trưng bằng các kỹ thuật XRD, SEM, FTIR và TGA. Kết quả cho thấy vật liệu ZIF-11 được hình thành sau 3 giờ và có cấu trúc ổn định sau 4 giờ tổng hợp. Vật liệu tổng hợp có cấu trúc đồng nhất với các khối đa diện 12 mặt sắc nét và độ bền nhiệt cao (> 500 °C). Kích thước của vật liệu tăng theo thời gian tổng hợp. Khả năng hấp phụ iodine của vật liệu phụ thuộc vào thời gian tổng hợp. Mẫu được tổng hợp trong 4 giờ cho thấy khả năng hấp phụ iodine tốt nhất.
NGHIÊN CỨU SỰ PHÂN HỦY RHODAMINE B TRÊN XÚC TÁC ZnFe2O4 KHI CÓ MẶT TÁC NHÂN H2O2
Tóm tắt
|
PDF
Vật liệu nano spinel ZnFe2O4 thuộc loại ferit sắt MFe2O4 (M = Mn2+, Fe2+, Co2+, Ni2+,…), thường được sử dụng làm sensor khí, vật liệu xúc tác… Trong nghiên cứu này, các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân hủy Rhodamine B trên xúc tác ZnFe2O4 khi có mặt tác nhân H2O2 đã được khảo sát. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các điều kiện tổng hợp vật liệu nano ZnFe2O4 ảnh hưởng đến khả năng phân hủy Rhodamine B và mẫu xúc tác tốt nhất được tổng hợp ở điều kiện: thời gian thủy nhiệt là 24 h, nhiệt độ thủy nhiệt là 120oC, nhiệt độ nung 500oC, dung môi ethylene glycol. Phương trình động học bậc 1 và bậc 2 đều mô tả tốt quá trình phân hủy Rhodamine B bằng xúc tác ZnFe2O4 khi có tác nhân H2O2. Năng lượng hoạt hóa của phản ứng phân hủy Rhodamine B xác định được là 41,1 kJ/mol.
NGHIÊN CỨU SỰ PHÂN HỦY BASIC FUCHSIN BẰNG XÚC TÁC ZnMn2O4 KHI CÓ MẶT TÁC NHÂN H2O2
Tóm tắt
|
PDF
Trong bài báo này, vật liệu ZnMn2O4 được dùng làm xúc tác cho phản ứng phân hủy basic fuchsin khi có tác nhân H2O2. Nghiên cứu cho thấy các điều kiện tổng hợp vật liệu spinel ZnMn2O4 ảnh hưởng đến khả năng phân hủy basic fuchsin. Hiệu suất phân hủy basic fuchsin đều lớn hơn 96% đối với các mẫu khảo sát. Tốc độ phản ứng phân hủy basic fuchsin b75ằng xúc tác spinel ZnMn2O4 khi có tác nhân H2O2 tăng theo nhiệt độ và giảm theo nồng độ đầu của basic fuchsin. Năng lượng hoạt hóa của phản ứng này xác định được là 44,47 kJ/mol.
NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG NHIỄM VI NHỰA Ở MỘT SỐ LOÀI CÁ NHỎ NƯỚC MẶN KHU VỰC VEN BỜ TỈNH BÌNH ĐỊNH
Tóm tắt
|
PDF
Nghiên cứu vi nhựa trong ống tiêu hóa của các loài cá nhỏ ven bờ tỉnh Bình Định lần đầu tiên được thực hiện. Các loại cá nghiên cứu là các loại cá mà người dân địa phương có thói quen ăn nguyên con, bao gồm Cá bống (gồm 2 loài: cá Bống Cát (Glossogobius aureus) và cá Bống Thệ (Oxyurichthys ophthalmonema)), Cá cơm (Stolephorus commersonnii), Cá nục (Decapterus macrosoma), Cá phèn (Upeneus moluccensis), Cá trích (Sardinella gibbosa), thu tại 4 bãi biển dọc theo bờ biển tỉnh Bình Định. Kết quả 100% mẫu cá phân tích đều chứa vi nhựa trong ống tiêu hóa, tổng cộng 2987 hạt vi nhựa. Vi nhựa dạng sợi là loại chủ yếu, chiếm 74,5% trong tổng số vi nhựa được phát hiện, còn lại là vi nhựa dạng mảnh, không phát hiện có các vi nhựa dạng bọt, màng và dạng viên. Vi nhựa màu vàng là phổ biến nhất (35,72%). Kích thước sợi chủ yếu từ 800 - 900µm, kích thước mảnh chủ yếu từ 90000 - 135000µm2. Như vậy, mức độ ô nhiễm vi nhựa trong ống tiêu hóa của một số loài cá nhỏ ven bờ tỉnh Bình Định ở mức tương đối cao khi so sánh với các khu vực khác trên thế giới. Với tình trạng nhiễm vi nhựa trong ống tiêu hoá ở các loài cá nhỏ mà chúng tôi khảo sát trong nghiên cứu này cho thấy sự nguy hại đối với sức khoẻ của con người và các sinh vật biển khác nếu dùng các loài cá này làm thức ăn.
ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CỦA CÁ KÌNH Siganus canaliculatus (PARK, 1797) Ở PHÁ TAM GIANG BẰNG PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN ĐƠN VỊ HÌNH HỌC
Tóm tắt
|
PDF
Cá Kình Siganus canaliculatus (Park, 1797) là một loài cá vây tia thuộc họ Siganidae với giá trị kinh tế và dinh dưỡng cao đối với sản xuất và nuôi trồng thủy sản nên rất có triển vọng cho nghề nuôi cá ở Việt Nam nói chung và phá Tam Giang nói riêng. Nghiên cứu được thực hiện tại hai vùng phía Bắc và phía Nam phá Tam Giang từ tháng 03/2021 đến tháng 10/2021. Kết quả nghiên cứu bước đầu đã mô tả được các đặc điểm hình thái của cá Kình S. canaliculatus. Đặc điểm hình thái của cá S. canaliculatus là một loài thuộc họ Siganidae, có thân nén, khá mảnh, đầu lõm ở phía mặt trên, mõm nhọn hơn, lỗ mũi trước có một vạt dài ở cá con (ngắn dần theo tuổi, không có ở cá thể lớn hơn) và đỉnh của vạt dài tới lỗ mũi sau. Khoảng 100 đến 200 đốm màu xanh ngọc trên đầu và thân, số lượng tăng dần theo kích thước của cá; 2 đến 3 hàng đốm giữa đường bên và gốc của nửa trước vây lưng. Số gai ở vây lưng là 13, số tia vây ở vây lưng là 10, số gai ở vây hậu môn là 7, số tia vây ở vây hậu môn là 9. Phân tích đa biến p = 0,7438 > 0,05 cho thấy rằng không có sự khác biệt về hình dạng giữa nhóm đực và cái của cá S. canaliculatus, không có tương tác giữa giới tính. Kết quả bước đầu có thể khẳng định có sự liên quan đến sự thích nghi của chúng với môi trường sống chính của cá, trong trường hợp này là sự khác biệt về đặc điểm sinh thái của hai vị trí Cồn Gai và Hương Phong, nơi các loài cá được thu thập.
MỘT MÔ HÌNH KẾT HỢP TRUYỀN LẠI VÀ ĐỊNH TUYẾN LỆCH HƯỚNG CÓ GIỚI HẠN TRONG MẠNG CHUYỂN MẠCH CHÙM QUANG
Tóm tắt
|
PDF
Mạng chuyển mạch chùm quang (OBS) được xem công nghệ chuyển mạch quang hứa hẹn trong tương lai. Nhưng do không có bộ đệm quang tại các nút trung gian vì vậy một trong những vấn đề quan trọng trong mạng OBS là làm sao giảm các chùm bị rơi khi có sự tranh chấp tài nguyên. Đặc biệt, khi lưu lượng tải của mạng cao việc tranh chấp sẽ xảy ra thường xuyên. Hiện nay có nhiều phương pháp giải quyết tranh chấp chùm đã được đề xuất như: sử dụng chuyển đổi bước sóng, sử dụng đường trễ quang FDL, định tuyến lệch hướng hoặc truyền lại chùm. Trong đó định tuyến lệch hướng hoặc truyền lại chùm là hai phương pháp không làm thay đổi hệ thống mạng, có thể tận dụng tài nguyên rỗi trên kết nối ra khác và đang được nghiên cứu rộng rãi hiện nay. Tuy nhiên việc truyền lại chùm hoặc định tuyến lệch hướng không kiểm soát có thể dẫn đến việc tăng số luồng dữ liệu lưu thông, tăng độ trễ truyền thông đầu cuối, tình trạng tranh chấp tăng lên cho các tuyến đường lệch hướng hay các chùm có thể bị lặp vô hạn. Trong nghiên cứu này chúng tôi đề xuất một giải pháp kết hợp giữa truyền lại chùm và định tuyến lệch hướng có giới hạn nhằm tăng hiệu suất sử dụng tài nguyên, giảm xác suất mất chùm và giảm độ trễ truyền thông đầu cuối.
DỰ ĐOÁN LAN TRUYỀN THÔNG TIN TRÊN MẠNG HỌC THUẬT: MỘT CÁCH TIẾP CẬN MỚI VỚI SỰ KẾT HỢP GIỮA CÁC YẾU TỐ BÊN NGOÀI VÀ NỘI TẠI
Tóm tắt
|
PDF
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đề xuất một cách tiếp cận mới để giải quyết bài toán dự đoán lan truyền chủ đề trên mạng học thuật với sự kết hợp của các yếu tố bên ngoài và nội tại. Chúng tôi sử dụng học máy để dự đoán sự lan truyền của một chủ đề với sự kết hợp của các đặc trưng khác nhau. Đầu tiên, chúng tôi đề xuất một phương pháp mới để tính xác suất kích hoạt, hay còn gọi là xác suất lây nhiễm từ một nút đã được “kích hoạt” sang một nút “chưa được kích hoạt” dựa vào thông tin meta-path và thông tin văn bản (text). Xác suất này được xem xét như một yếu tố tác động từ bên ngoài để một nút có thể bị kích hoạt. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng khai thác sở thích của tác giả đối với chủ đề lan truyền, đây được xem xét như yếu tố nội tại của tác giả mà có thể dẫn đến việc “lây nhiễm” chủ đề. Cuối cùng, chúng tôi kết hợp giữa đặc trưng về xác suất lây nhiễm và sở thích của tác giả trong dự đoán lan truyền chủ đề. Các thực nghiệm được tiến hành trên các chủ đề khác nhau của các tập dữ liệu mạng học thuật và thu được các kết quả thỏa mãn.
THUẬT TOÁN NEARMISS-SF CHO BÀI TOÁN PHÂN LỚP DỮ LIỆU MẤT CÂN BẰNG VÀ CÓ SỐ CHIỀU LỚN
Tóm tắt
|
PDF
Phân lớp dữ liệu mất cân bằng đặc biệt với tập dữ liệu có số chiều lớn là một bài toán quan trọng trong thực tế. Trong bài báo này chúng tôi đề xuất một thuật toán làm giảm số lượng phần tử lớp đa số trên một tập con các đặc trưng để cải thiện hiệu suất phân lớp tập dữ liệu mất cân bằng và có số chiều lớn.
HỆ THỐNG HỒ Ở THÀNH NỘI HUẾ VÀ KHẢ NĂNG GIẢM THIỂU HIỆU ỨNG ĐẢO NHIỆT ĐÔ THỊ
Tóm tắt
|
PDF
Bài báo trình bày khái quát đặc điểm hệ thống các hồ khu vực Thành Nội và kết quả nghiên cứu khả năng giảm thiểu hiệu ứng đảo nhiệt đô thị của nhân tố mặt nước tại các hồ ở Thành Nội vào các năm 2010, 2015, 2020. Phương pháp viễn thám và GIS, khảo sát thực địa được sử dụng để trích xuất giá trị nhiệt độ bề mặt từ kênh nhiệt của ảnh viễn thám, khảo sát nhiệt độ không khí trực tiếp phục vụ mục tiêu nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự xuất hiện của các hồ đóng vai trò là các đảo mát trong lòng đô thị; số lượng và đặc điểm của các hồ đã tối đa hóa khả năng làm mát, hạn chế sự hình thành các đảo nhiệt có quy mô lớn và giảm thiểu sự gia tăng nhiệt độ bề mặt tại khu vực Thành Nội Huế dưới tác động của quá trình đô thị hóa.
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP XANH Ở HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
Tóm tắt
|
PDF
Huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình là một huyện chủ yếu sản xuất nông nghiệp. Bằng việc sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp; khảo sát thực địa; phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân, bài báo đã phân tích thực trạng phát triển nông nghiệp ở huyện trong nhưng năm gần đây. Kết quả cho thấy, ngành nông nghiệp của huyện Bố Trạch đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề bất cập trong quá trình sản xuất theo hướng bền vững. Do đó, giải pháp phát triển sản xuất nông nghiệp xanh là một hướng đi đúng đắn. Các giải pháp nhằm giúp ngành nông nghiệp huyện Bố Trạch phát triển theo hướng “xanh” và bền vững bao gồm: giải pháp về chính sách; giải pháp tuyên truyền nhận thức của người dân; giải pháp về thực hiện xanh hóa sản xuất trong nông nghiệp; giải pháp tổ chức liên kết phát triển chuỗi giá trị; và giải pháp về nguồn nhân lực.
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC MÔ HÌNH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ
Tóm tắt
|
PDF
Đánh giá hiệu quả các mô hình sản xuất nông nghiệp ở huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị nhằm mục đích đánh giá những mô hình sản xuất nông nghiệp nào có hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và môi trường. Việc đánh giá dựa trên những 2 nhóm phương pháp: phương pháp lí thuyết (phân tích, so sánh và tổng hợp) và phương pháp thực tiễn (phương pháp chuyên gia, phương pháp khảo sát thực địa, phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp). Hiện nay, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị có 5 nhóm mô hình chính và 19 mô hình sản xuất nông nghiệp. Trong đó, có 2 mô hình sản xuất nông nghiệp cho hiệu quả cao (nuôi cua trong ao, nuôi tôm thẻ chân trắng), 11 mô hình cho hiệu quả khá và 6 mô hình cho hiệu quả trung bình. Từ đó đối với các mô hình cho hiệu quả cao và khá cần được nghiên cứu và triển khai nhân rộng hơn trên địa bàn huyện còn đối với các mô hình hiệu quả trung bình cần có những giải pháp cụ thể như có sự đầu tư cơ sở hạ tầng, kĩ thuật, vốn và tập huấn… nhằm nâng cao hiệu quả mô hình sản xuất nông nghiệp.