Ngày xuất bản: 20-04-2026

Phân phối chất ức chế điểm kiểm soát miễn dịch dựa trên hạt Nano: Tổng quan hệ thống về độ an toàn và độc tính miễn dịch

Lê Phước Thục Uyên, Võ Phước Bảo Trân
Tóm tắt | PDF (English)
Bối cảnh: Các chất ức chế điểm kiểm soát miễn dịch (ICIs) ngày càng được sử dụng rộng rãi trong điều trị ung thư, nhưng đã được ghi nhận là gây ra các tác dụng bất lợi liên quan đến miễn dịch do sự hoạt hóa miễn dịch không đặc hiệu. Các hệ thống phân phối dựa trên hạt nano đã được đề xuất như một chiến lược nhằm cải thiện khả năng hướng đích khối u và giảm độc tính toàn thân; tuy nhiên, hồ sơ an toàn và độc tính miễn dịch của chúng vẫn chưa được tổng hợp một cách toàn diện. Phương pháp: Nghiên cứu này thực hiện tổng quan hệ thống theo hướng dẫn PRISMA. Hai cơ sở dữ liệu PubMed và Scopus được tìm kiếm đối với các bài báo được công bố từ năm 2015 trở đi liên quan đến việc ứng dụng hệ thống phân phối qua trung gian hạt nano của các chất ức chế PD-1, PD-L1 hoặc CTLA-4 trong các khối u đặc. Tiêu chí lựa chọn được áp dụng cho các nghiên cứu tiền lâm sàng và các thử nghiệm lâm sàng giai đoạn sớm có báo cáo về độ an toàn, độc tính hoặc các kết quả liên quan đến miễn dịch. Dữ liệu về các nền tảng hạt nano, các thông số an toàn và chất lượng phương pháp luận được trích xuất, đồng thời nguy cơ sai lệch được đánh giá bằng công cụ SYRCLE. Kết quả: Trong số 24 nghiên cứu đáp ứng tiêu chí lựa chọn, phần lớn là các nghiên cứu tiền lâm sàng trên động vật. Hạt nano polymer là nền tảng được nghiên cứu phổ biến nhất, tiếp theo là các hệ thống dựa trên lipid, vô cơ, albumin và hệ thống vận chuyển gen. Hầu hết các nghiên cứu ghi nhận cân nặng cơ thể ổn định, mô học cơ quan được bảo tồn và các chỉ số sinh hóa huyết thanh nhìn chung ở mức bình thường. Phân tích cytokine thường ghi nhận sự thay đổi của IFN-γ, TNF-α và ít thường xuyên hơn là IL-6, cho thấy việc phân phối ICI qua trung gian hạt nano có thể gây hoạt hóa miễn dịch, trong khi chỉ có bằng chứng hạn chế về độc tính viêm toàn thân cấp tính trong các nghiên cứu ngắn hạn được đưa vào. Đánh giá nguy cơ sai lệch cho thấy có sự ngẫu nhiên hóa và báo cáo kết quả tương đối đầy đủ, nhưng thường thiếu rõ ràng về quy trình làm mù và điều kiện nuôi giữ. Kết luận: Các liệu pháp qua trung gian hạt nano cho thấy hồ sơ an toàn ngắn hạn đầy hứa hẹn. Tuy nhiên, độc tính miễn dịch dài hạn, sự tồn lưu của hạt nano và khả năng chuyển giao sang lâm sàng vẫn chưa được giải quyết đầy đủ, cho thấy cần có các tiêu chuẩn báo cáo an toàn thống nhất và mở rộng đánh giá lâm sàng.

Ghi chú về các quạt Gröbner hạn chế

Trần Nguyễn Khánh Linh, Lê Ngọc Long
Tóm tắt | PDF (English)
Trong bài báo này chúng tôi nghiên cứu về quạt Gröbner của một iđêan thực sự khác không trong một vành đa thức. Chúng tôi đưa ra mô tả cụ thể đối với quạt Gröbner hạn chế của iđêan ứng với một bộ các từ và chỉ ra cách tính toán nó. Hơn nữa, dưới một điều kiện xác định, chúng tôi chỉ ra một kết nối giữa các quạt Gröbner hạn chế của một iđêan và quạt Gröbner của mô đun loại bỏ tương ứng với iđêan.

Đặc tính tán sắc gần bằng không trong sợi tinh thể quang tử lõi hình hoa được thấm đầy CHCl3

Nguyễn Thị Thủy, Phạm Việt Tuấn, Lê Trần Uyên Tú, Nguyễn Thị Oanh, Hoàng Trọng Đức
Tóm tắt | PDF (English)
Trong bài báo này, chúng tôi lần đầu tiên đề xuất một cấu trúc sợi  tinh thể quang mới với lõi rỗng hình hoa gồm sáu cánh nhỏ được sắp xếp theo hình tròn và được thấm đầy chloroform. Bên cạnh đó, kích thước các lỗ khí ở lớp thứ nhất của lớp vỏ được thiết kế nhỏ hơn so với các lỗ khí ở những lớp còn lại. Thiết kế hiệu quả này giúp cải thiện đáng kể đặc tính tán sắc của sợi. Hai cấu hình tán sắc siêu phẳng gần bằng không với độ dao động rất nhỏ đã đạt được, lần lượt là ±0,996 ps/nm·km trong dải bước sóng từ 1439 nm đến 1698 nm và ±1,159 ps/nm·km trong dải bước sóng từ 569 nm đến 1861 nm. Các sợi tinh thể  quang tử này đại diện cho một thế hệ cấu trúc sợi mới, thay thế các sợi lõi thủy tinh truyền thống, phù hợp với các nguồn phát siêu liên tục công suất thấp.

Khai thác các phương pháp hàm phạt và tối ưu bầy đàn thích nghi cho tối đa hóa tốc độ bảo mật trong hệ thống SWIPT được hỗ trợ bởi IRS

Phạm Việt Tuấn, Nguyễn Lê Trung Thành, Hoàng Trọng Đức, Lê Phan Quốc Hưng
Tóm tắt | PDF (English)
Trong bài báo này, bảo mật lớp vật lý của hệ thống truyền đồng thời thông tin và năng lượng (SWIPT) với sự hỗ trợ của bề mặt phản xạ thông minh (IRS) được nghiên cứu với sự hiện diện của một máy nghe lén (Eve). Mục tiêu là tối đa tốc độ bảo mật đồng thời đạt được ngưỡng thu hoạch năng lượng tại máy thu chia công suất. Nhờ tối ưu độ dịch pha tại IRS, tín hiệu được nâng cao tại máy thu trong khi giảm xuống tại Eve. Phương pháp giải theo kỹ thuật hàm phạt và tối ưu bầy đàn (PSO) thích nghi được đề xuất và thực hiện qua các mô phỏng số. Cuối cùng, chúng tôi trình bày các tác động của các thông số hệ thống như công suất phát và ngưỡng thu hoạch năng lượng và hướng nghiên cứu tiếp theo.

Mô phỏng số đặc tính tán sắc trong sợi tinh thể quang tử mạng vuông thẩm thấu CCl4

Hoàng Trọng Đức, Siu Lol, Nguyễn Thị Thủy
Tóm tắt | PDF (English)
Các khuyết tật mạng tinh thể, bao gồm sự khác biệt về kích thước lỗ khí và khoảng cách giữa các lỗ khí, đã góp phần đáng kể vào việc tối ưu đặc tính tán sắc của sợi tinh thể quang tử mạng vuông được thẩm thấu carbon tetrachloride. Thông qua mô phỏng số, chúng tôi đã khảo sát sự phụ thuộc của chiết suất hiệu dụng và tán sắc theo sự thay đổi của các tham số cấu trúc. Kết quả cho thấy có thể đạt được đặc tính tán sắc hoàn toàn bình thường siêu phẳng với dao động ΔD = ±0,98 ps/nm·km trong dải bước sóng từ 1,394 μm đến 1,734 μm. Bốn sợi quang có cấu hình tán sắc phẳng, giá trị nhỏ tại các bước sóng bơm đã được đề xuất như những nguồn laser công suất thấp cho các nghiên cứu về tạo phổ siêu liên tục.

Áp dụng biến đổi Hilbert và mô hình học tổng hợp vào tiên đoán tương tác giữa hai protein

Nguyễn Tương Tri, Mai Xuân Văn, Trần Võ Hoàng Nguyên, Trần Hoài Nhân
Tóm tắt | PDF
Xác định tương tác protein-protein (PPI) có vai trò quan trọng trong việc hiểu biết về cấu trúc và chức năng sinh học của tế bào. Việc dự đoán chính xác các tương tác vẫn đang là một thách thức. Trong bài báo này, chúng tôi giới thiệu một phương pháp kết hợp giữa biến đổi Hilbert trên thông tin tiến hóa cho bước trích xuất đặc trưng và mô hình phân loại Deep Forest (DF) cho bước dự đoán tương tác. Việc sử dụng biến đổi Hilbert là nhằm tăng cường thông tin tiến hóa được lưu trữ trong trình tự protein. Bên cạnh đó, DF, một mô hình phân loại tổng hợp mạnh, được sử dụng để cải thiện hiệu suất dự đoán. Phương pháp đề xuất đã được đánh giá trên bộ dữ liệu chuẩn Yeast và so sánh với các phương pháp hiện có khác. Kết quả cho thấy phương pháp của chúng tôi đã đạt hiệu quả cao trong dự đoán PPI. Các bộ dữ liệu và mã nguồn của phương pháp được cung cấp tại https://github.com/thnhanhub/FeatPSSM.git.

Nghiên cứu sử dụng điện cực in SPE xác định chất kháng sinh Nitrofurantoin

Hồ Xuân Anh Vũ, Nguyễn Đăng Giáng Châu, Hoàng Thái Long, Nguyễn Hải Phong, Hà Thùy Trang, Lê Thành Tâm
Tóm tắt | PDF
Nitrofurantoin (NFR) là kháng sinh thuộc nhóm nitrofuran cần được kiểm soát chặt chẽ do nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Trong nghiên cứu này, điện cực in (SPE) kết hợp thiết bị điện hóa cầm tay Metrohm Dropsens µStat400 được sử dụng để khảo sát đặc tính điện hóa và xây dựng phương pháp xác định NFR. Điện cực SPE được đặc trưng bằng kỹ thuật von-ampe vòng và phổ trở kháng điện hóa, cho thấy diện tích hoạt động điện hóa (ESCA) đạt 0,1005 ± 0,0003 cm² và điện trở truyền điện tích thấp Rct = 15,02 Ω, chứng tỏ khả năng truyền electron thuận lợi. Tín hiệu dòng đỉnh của NFR trên SPE trong đệm Britton–Robinson pH = 2 đạt 36,55 ± 0,79 µA, cao gấp 3,6 lần so với điện cực GCE. Phương pháp von-ampe sóng vuông được thiết lập cho quá trình phân tích NFR với hai khoảng tuyến tính 0 – 4 µM và 4 – 40 µM; giới hạn phát hiện và giới hạn định lượng của NFR lần lượt là 0,23 µM và 0,79 µM. Phương pháp đã được áp dụng để phân tích NFR trong 04 mẫu thuốc thương mại, kết quả phân tích hàm lượng NFR nằm trong khoảng 96,0 – 104,9 % so với giá trị công bố trên nhãn.

Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tốc độ phân hủy thuốc trừ sâu Fipronil trong đất

Nguyễn Đăng Giáng Châu, Lê Thị Mỹ Diệu, Hồ Xuân Anh Vũ, Trịnh Ngọc Băng Thanh, Huỳnh Thị Túy Ngọc
Tóm tắt | PDF
Sự tồn lưu của các HCBVTV trong môi trường đất đã và đang trở thành mối quan tâm lớn đối với cộng đồng khoa học và các nhà quản lý môi trường. Nghiên cứu này tập trung tìm hiểu vai trò của nhiệt độ đối với tốc độ phân hủy của thuốc trừ sâu fipronil trong môi trường đất. Một hệ thí nghiệm đã được thiết kế theo hướng dẫn của EFSA (Cơ quan an toàn thực phẩm Châu Âu). Ba mức nhiệt độ khảo sát gồm30 oC, 40 oC, 50 oC. Phương trình động học phân hủy của fipronil trong các điều kiện nhiệt độ khác nhau đã được xác định và tuân theo động học biểu kiến bậc 1 với hệ số xác định R2 > 0.7. Thời gian bán hủy của fipronil trong đất ứng với 3 mức nhiệt độ khảo sát lần lượt là: 26,3 ngày, 17,9 ngày, 2,3 ngày, chứng minh ảnh hưởng lớn của nhiệt độ đến quá trình phân hủy. Việc nghiên cứu động học phân hủy các HCBVTV trong đất đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá chu trình tồn tại của chúng trong môi trường tự nhiên, xác định khả năng phân hủy hóa học, từ đó hỗ trợ việc dự báo nguy cơ ô nhiễm, hướng dẫn sử dụng an toàn và xây dựng các chính sách quản lý phù hợp.

Tán xạ neutron-hạt nhân giàu neutron: Cực của ma trận tán xạ qua nghiệm của hàm Jost và cấu trúc liên tục ứng dụng cho 24O

Trần Viết Nhân Hào, Trần Diệu Thùy
Tóm tắt | PDF
Trong bài báo này chúng tôi nghiên cứu tán xạ neutron-hạt nhân giàu neutron trong mô hình đơn kênh, tập trung vào cấu trúc liên tục ứng dụng cho ²⁴O. Các cực của ma trận tán xạ được xác định từ các nghiệm của hàm Jost. Ma trận T và mật độ mức (level density) cho trạng thái liên kết và liên tục cũng được tính toán. Kết quả thu được vị trí các đỉnh cộng hưởng chủ đạo và các đỉnh CLD (continuum level density) đồng pha cùng đồ thị | (k)|² trên mặt phẳng năng lượng phức và xung lượng phức. Kết quả này cung cấp chuẩn đối chiếu và làm nền cho việc tách riêng đóng góp của cộng hưởng cũng như mở rộng đa kênh với Hartree-Fock-Bogoliubov ở các nghiên cứu tiếp theo.

Tổng hợp nano AgCl/ZnMn2O4 ứng dụng làm chất xúc tác cho phản ứng khử 4-nitrophenol

Nguyễn Lê Mỹ Linh, Trần Công Dĩnh, Nguyễn Thị Thủy Tiên, Nguyễn Lê Phương Thùy, Trần Thùy Trinh, Lê Bá Minh Lộc
Tóm tắt | PDF
Trong bài báo này, vật liệu nano AgCl/ZnMn2O4 được tổng hợp thành công bằng phương pháp thủy nhiệt kết hợp phương pháp hóa học. Vật liệu tổng hợp được đặc trưng bằng phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD), hiển vi điện tử quét (SEM), phổ hồng ngoại (FT-IR) và đẳng nhiệt hấp phụ-khử hấp phụ N2. Kết quả phân tích cho thấy vật liệu nano AgCl/ZnMn2O4 gồm các pha tinh thể AgCl và ZnMn2O4 với độ tinh thể cao, diện tích bề mặt đạt 30,23 m²·g⁻¹, với kích thước hạt nano trong khoảng 30–150 nm. Vật liệu thu được ứng dụng làm xúc tác cho phản ứng khử 4-nitrophenol bằng NaBH4 để tạo thành 4-aminophenol. Động học phản ứng khử 4-nitrophenol bằng NaBH4 tuân theo mô hình động học bậc 1, hằng số tốc độ k tăng theo nhiệt độ và năng lượng hoạt hóa của phản ứng xác định được là 65,79 kJ.mol-1.

So sánh khả năng ức chế ăn mòn thép của indole-5-carboxylic acid và 1-benzothiophene-5-carboxylic acid bằng tính toán hóa lượng tử

Đinh Quý Hương, Nguyễn Như Hậu, Bạch Thị Diệu My, Võ Thị Phương Thảo, Ngô Hồng Cát Vân
Tóm tắt | PDF
Indole-5-carboxylic acid (ICA) và 1-benzothiophene-5-carboxylic acid (BTA) là hai hợp chất được lựa chọn để đánh giá khả năng ức chế ăn mòn thép. Các thông số hóa lượng tử của chúng bao gồm năng lượng của obitan phân tử bị chiếm cao nhất, năng lượng của obitan phân tử không bị chiếm thấp nhất, khoảng cách năng lượng, độ cứng hóa học, độ mềm phân tử, số lượng electron trao đổi giữa kim loại và chất ức chế ăn mòn indole-5-carboxylic acid và 1-benzothiophene-5-carboxylic acid đã được tính toán ở mức B3LYP/6-311++G(d,p). Kết quả cho thấy ICA là chất ức chế ăn mòn thép tốt hơn BTA. Ngoài ra, các mô phỏng động lực học phân tử cho thấy cấu hình hấp phụ của các chất ức chế proton hóa trên bề mặt Fe(110). Năng lượng liên kết của pICA và pBTA trên bề mặt Fe(110) được tính với các giá trị lần lượt là 574,08 và 572,97 kJ/mol. Các kết quả này một lần nữa khẳng định khả năng bảo vệ bề mặt Fe tốt của ICA so với BTA trong môi trường acid.

Khảo sát khả năng hấp phụ chất màu của vật liệu Fe2O3/Chitosan

Đặng Thị Thanh Nhàn, Trần Thị Phương Nga
Tóm tắt | PDF
Ngày nay, nhiều nghiên cứu hướng đến việc chế tạo các vật liệu hỗ trợ xử lý các nguồn nước bị ô nhiễm bởi phẩm nhuộm và ion kim loại. Vật liệu nano oxide kim loại có tính từ tính đang là những ứng cử viên đáng tin cậy. Trong nghiên cứu này, vật liệu Fe2O3/CTS đã được tổng hợp thành công bằng phương pháp thủy nhiệt. Vật liệu được đặc trưng bởi các phương pháp phổ hồng ngoại (IR), giản đồ nhiễu xạ Rơnghen (XRD), phân tích nhiệt trọng lượng (TGA) và kính hiển vi điện tử quét (SEM). Kết quả cho thấy Fe2O3 trong vật liệu Fe2O3/CTS có tính tinh thể cao, phân bố trên sợi polymer chitosan và chiếm hàm lượng 49%. Vật liệu Fe2O3/CTS có khả năng hấp phụ các chất màu hữu cơ Methylene Blue (MB), Methyl Orange (MO), Congo Red (CR) và Rhodamine B (RhB) ở nhiệt độ phòng. Tiến hành thí nghiệm với 0,100 g vật liệu Fe2O3/CTS trong 30 mL dung dịch các chất màu MB, MO, CR và RhB nồng độ 10 mg/L, hiệu suất hấp phụ và dung lượng hấp phụ tương ứng lần lượt là 41,6%; 12,1%; 99,6%; 38,7% và 1,3; 0,4; 2,9; 1,2 mg/g.

Khảo sát thành phần hóa học của cây cỏ hôi (Ageratum conyzoides L.) ở Thừa Thiên Huế

Lê Quốc Thắng, Võ Thị Bích Ngọc, Ngô Duy Ý, Phạm Việt Tý, Trương Thế Nhật Anh, Nguyễn Chí Bảo
Tóm tắt | PDF
Bài báo này công bố kết quả định tính một số lớp chất và thành phần hóa học tinh dầu của cây cỏ hôi (Ageratum conyzoides L.) được thu hái tại Thừa Thiên Huế. Trong nghiên cứu này các lớp chất được định tính bằng các phương pháp vật lý và hóa học; thành phần hóa học của tinh dầu được xác định bằng phương pháp sắc kí khí khối phổ liên hợp (GC-MS). Kết quả nghiên cứu cho thấy cây cỏ hôi được thu hái tại Thừa Thiên Huế chứa các lớp chất như: saponin, flavonoid, steroid…; và hợp chất có hàm lượng lớn nhất trong tinh dầu của đối tượng nghiên cứu được xác định là: β-sesquiphellandrene (17,48%)

Nghiên cứu sự phân hủy basic fuchsin trên xúc tác ZnxMn(1-x)Fe2O4 khi có mặt tác nhân H2O2

Nguyễn Lê Mỹ Linh, Nguyễn Diệu Ánh, Phạm Thị Kim Chi
Tóm tắt | PDF
Trong nghiên cứu này, vật liệu nano ZnxMn(1-x)Fe2O4 được tổng hợp bằng phương pháp thủy nhiệt, ứng dụng phân hủy basic fuchsin khi có mặt tác nhân H2O2. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân hủy basic fuchsin trên xúc tác ZnxMn(1-x)Fe2O4 đã được khảo sát gồm điều kiện tổng hợp vật liệu, khối lượng xúc tác và nhiệt độ. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng điều kiện tổng hợp vật liệu nano ZnxMn(1-x)Fe2O4 ảnh hưởng đến khả năng phân hủy basic fuchsin. Phương trình động học bậc 1 phù hợp để mô tả quá trình phân hủy basic fuchsin trên xúc tác ZnxMn(1-x)Fe2O4 khi có mặt tác nhân H2O2. Năng lượng hoạt hóa của phản ứng phân hủy basic fuchsin xác định được là 14,37 kJ/mol.

Định danh 16S rRNA và khảo sát tiềm năng kháng khuẩn của Bacillus sp. B10

Đặng Thị Thúy Ngọc, Nguyễn Thị Kim Chi, Lâm Giang Hồng Phúc, Lê Ngọc Sương, Nguyễn Thị Kim Cơ
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này nhằm định danh và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của chủng vi khuẩn Bacillus sp. B10. Phân tích hình thái và phản ứng sinh hóa cho thấy B10 là vi khuẩn Gram dương, sinh bào tử, có hoạt tính catalase và oxidase dương tính. Trình tự gen 16S rRNA dài 1484 bp có hàm lượng G+C 55,5% và thể hiện độ tương đồng 99,5% với Bacillus velezensis, thuộc nhóm Bacillus amyloliquefaciens trong phức hợp Bacillus subtilis. Tiềm năng kháng khuẩn từ dịch nuôi cấy ngoại bào của chủng B10 được đánh giá bằng phương pháp khuếch tán lỗ thạch cho thấy khả năng ức chế mức trung bình đối với Vibrio alginolyticus (11,3 ± 0,4 mm), ức chế yếu Photobacterium damselae (3,9 ± 0,2 mm) và không thể hiện hiệu quả kháng Enterobacter hormaechei. Kết quả cho thấy chủng B10 thể hiện hoạt tính ức chế chọn lọc đối với Vibrio alginolyticus, gợi ý khả năng sinh các hợp chất có tác dụng kháng khuẩn đặc hiệu, nhiều khả năng liên quan đến các lipopeptide thường gặp ở chi Bacillus. Dữ liệu này cung cấp cơ sở ban đầu cho các nghiên cứu tiếp theo về hoạt tính kháng khuẩn của chủng B10 và ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản.