Tạp chí Khoa học và Giáo dục (Journal of Science and Education – JSE) thuộc Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế là một tạp chí khoa học đa ngành, công bố các công trình nghiên cứu của giảng viên, nhà nghiên cứu, học viên và sinh viên. Đồng thời, tạp chí là diễn đàn trao đổi học thuật dành cho các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.

Tạp chí tiếp nhận các bài báo khoa học và công trình nghiên cứu mới trong các lĩnh vực sau:

  • Khoa học Tự nhiên và Công nghệ;
  • Khoa học Xã hội và Nhân văn;
  • Khoa học Giáo dục và các lĩnh vực liên quan khác.

Áp dụng quy trình phản biện kín hai chiều, tạp chí xuất bản các bài báo nghiên cứu gốc và bài báo tổng quan bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh.

Tập. 66 Số. 03 (2026): Tạp chí Khoa học và Giáo dục: Khoa học Xã hội và Nhân văn

Ngày xuất bản: 20-06-2026

Chiến lược hỗ trợ hành vi tích cực cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ của cha mẹ trên địa bàn huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên

Dương Thị Trang, Nguyễn Phước Cát Tường
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu "Chiến lược hỗ trợ hành vi tích cực cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ của cha mẹ trên địa bàn huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên" nhằm đánh giá các chiến lược hỗ trợ hành vi tích cực (HTHVTC) trong việc can thiệp cho trẻ RLPTK. Đối tượng khảo sát là 120 phụ huynh có con mắc rối loạn phổ tự kỷ, hiện đang theo học tại 5 trung tâm can thiệp và hòa nhập trên địa bàn huyện Văn Giang. Mẫu nghiên cứu cho thấy các chiến lược hỗ trợ hành vi tích cực mà phụ huynh áp dụng còn ở mức trung bình, với điểm trung bình là 3.48 (trong thang Likert 5 mức. Các chiến lược được đánh giá cao nhất là dạy kỹ năng thay thế (x̄ = 3.56) và hỗ trợ môi trường (x̄ = 3.55), trong khi tương tác xã hội có điểm thấp nhất (x̄ = 3.30). Đặc biệt, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp về việc áp dụng các chiến lược hỗ trợ hành vi tích cực. Tuy nhiên, các yếu tố tâm lý-xã hội như nhận thức về chiến lược, quan điểm về trừng phạt và việc tham gia các khóa tập huấn có ảnh hưởng rõ rệt đến việc áp dụng HTHVTC. Phụ huynh có hiểu biết về chiến lược này và đã tham gia các khóa tập huấn thể hiện mức độ áp dụng các chiến lược tích cực cao hơn. Từ kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các chương trình huấn luyện cần được cá nhân hóa và toàn diện hơn, bao gồm không chỉ các kỹ thuật can thiệp cho trẻ mà còn hỗ trợ cha mẹ về mặt tinh thần và kỹ năng tự chăm sóc. Điều này không chỉ giúp nâng cao chất lượng can thiệp mà còn cải thiện chất lượng cuộc sống cho cả trẻ và gia đình.

Thói quen ngủ muộn của sinh viên Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế

Võ Tá Bảo, Nguyễn Phước Cát Tường, Hà Thị Thủy, Trần Thị Nhiệm
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này khảo sát thực trạng thói quen ngủ muộn dưới dạng trì hoãn giấc ngủ ở 213 sinh viên (SV) Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế (ĐHSP, ĐHH). Thói quen ngủ muộn trong nghiên cứu này được hiểu là hành vi trì hoãn giờ đi ngủ sau 23 giờ so với dự định và lặp lại đủ thường xuyên, trở thành tự động hóa. Dữ liệu được thu thập bằng bảng hỏi dựa trên thang đo Trì hoãn giờ đi ngủ (Bedtime Procrastination Scale- Kroese et al., 2014) cùng các câu hỏi tự báo cáo về thời gian ngủ – thức theo chuẩn quốc tế. Kết quả thống kê mô tả cho thấy mặc dù hơn 82% SV mong muốn ngủ trước 23 giờ nhưng chưa đến 40% thực hiện được; đồng thời 61,51% ngủ sau 23 giờ trong ngày học và 73,71% vào ngày nghỉ. Những phát hiện này phản ánh khoảng cách đáng kể giữa ý định và hành vi. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ sự kết hợp giữa cám dỗ của môi trường số (đặc biệt là mạng xã hội) và sự suy giảm năng lực tự điều chỉnh vào cuối ngày. Cơ chế “chỉ thêm một chút nữa” cùng trạng thái mệt mỏi khiến SV dễ rơi vào vòng lặp: giải trí thụ động – mất kiểm soát thời gian – thức khuya. Nghiên cứu gợi ý rằng trì hoãn giờ ngủ ở SV là vấn đề tâm lý – hành vi, không chỉ đơn thuần là vấn đề sinh học. Từ kết quả này, nhóm nghiên cứu đề xuất các biện pháp can thiệp ở cấp độ cá nhân (quản lý thói quen sử dụng thiết bị, kỹ thuật “Nếu – Thì”, “Brain Dump”) và cấp độ nhà trường (giáo dục về quản lý thời gian, nhịp sinh học và hỗ trợ tâm lý học đường). Nghiên cứu đóng góp dữ liệu nền tảng về hiện tượng “trì hoãn giờ đi ngủ” trong bối cảnh SV Việt Nam và gợi mở hướng can thiệp nhằm cải thiện sức khỏe giấc ngủ và hiệu quả học tập.

Sức khỏe tâm thần của phụ nữ sau ly hôn: Một nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh

Lê Đỗ Yến Hương, Nguyễn Ngọc Quỳnh Anh
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu này nhằm khảo sát thực trạng sức khỏe tâm thần của phụ nữ sau ly hôn tại Thành phố Hồ Chí Minh. Mẫu nghiên cứu gồm 79 phụ nữ sau ly hôn được lựa chọn bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Các thang đo được sử dụng bao gồm CES-D-10 (trầm cảm), GAD-7 (lo âu), PSS-SR5 (căng thẳng sau sang chấn), và PERMA-Profiler (an lạc). Kết quả cho thấy gần một nửa số phụ nữ có triệu chứng trầm cảm (48,1%) và hơn một nửa có lo âu (50,2%) hoặc căng thẳng (50,6%), phản ánh mức độ rối nhiễu cảm xúc đáng kể ở nhóm đối tượng này. Tuy vậy, các chỉ báo an lạc vẫn đạt mức trung bình khá, cho thấy các yếu tố tích cực như ý nghĩa cuộc sống, gắn kết xã hội và cảm xúc tích cực vẫn được duy trì ở một bộ phận phụ nữ sau ly hôn. Kết quả nghiên cứu phù hợp với mô hình hai liên tục của Keyes (Keyes’ Dual Continua Model of Mental Health), cho thấy well-being và các vấn đề về sức khỏe tinh thần là hai cấu trúc có thể biến thiên độc lập tương đối; do đó, ngay cả khi xuất hiện các triệu chứng rối nhiễu tâm lý, một mức độ well-being nhất định vẫn có thể được duy trì. Nghiên cứu đề xuất các chương trình hỗ trợ phụ nữ sau ly hôn cần tập trung đồng thời vào giảm triệu chứng rối nhiễu và tăng cường sức mạnh nội tại nhằm thúc đẩy quá trình thích ứng sau ly hôn.

Quản lý hoạt động phát triển văn hóa đọc cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm, Đại Học Huế

Võ Thị Minh Hà, Nguyễn Thanh Hùng
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng quản lý phát triển văn hóa đọc cho sinh viên tại Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế. Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp định lượng, khảo sát bằng bảng hỏi thang Likert 5 mức đối với 55 cán bộ quản lý, giảng viên, cán bộ thư viện. Dữ liệu được xử lý bằng các phương pháp thống kê mô tả nhằm xác định mức độ hiệu quả của các nội dung quản lý. Kết quả nghiên cứu cho thấy công tác quản lý hoạt động phát triển văn hóa đọc cho sinh viên đạt một số kết quả tương đối tốt: Mục tiêu, nội dung và hình thức tổ chức cơ bản phù hợp với mục tiêu đào tạo. Tuy nhiên, nghiên cứu còn cho thấy một số hạn chế như sự phối hợp giữa các lực lượng trong nhà trường chưa đồng bộ, công tác giám sát và đánh giá hoạt động này chưa thường xuyên, việc khai thác học liệu số và môi trường đọc trực tuyến chưa hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý phát triển văn hóa đọc cho sinh viên ở Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung cơ sở thực tiễn cho quản lý phát triển văn hóa đọc trong giáo dục đại học, đồng thời cung cấp các gợi ý có giá trị tham khảo cho các cơ sở đào tạo sư phạm trong bối cảnh đổi mới giáo dục và chuyển đổi số.

Nghiên cứu kiểu nhân vật dự báo trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam

Trần Thị Thanh Nhị
Tóm tắt | PDF
Trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam, nhân vật mang chức năng dự báo là kiểu nhân vật hành chức có tính chất, chức năng, vai trò dự báo, báo trước tương lai, vận số cho cá nhân, cộng đồng. Kiểu nhân vật này bao gồm ba nhóm nhỏ: nhân vật kỳ ảo, nhân vật dự báo môi giới, kết nối hai thế giới thực - ảo, nhân vật bình phàm. Ngoài những đặc điểm chung trong cách thức dự báo, mỗi kiểu loại nhân vật còn những nét đặc điểm riêng biệt về xuất thân, khả năng, sự tương tác với các nhân vật khác, vai trò trong tác phẩm.

Đổi mới dạy học dịch thuật Việt–Trung trong kỷ nguyên AI: Cơ sở lý luận và mô hình ứng dụng

Tô Vũ Thành, Trần Đức Thắng
Tóm tắt | PDF
Sự phát triển của dịch máy nơ-ron (NMT) và các mô hình ngôn ngữ lớn (LLMs) đang đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản đối với dạy học dịch thuật Việt–Trung ở bậc đại học. Bài báo đặt câu hỏi: dạy học dịch thuật Việt–Trung cần thay đổi như thế nào để đáp ứng bối cảnh AI, và mô hình tích hợp nào phù hợp với đặc thù cặp ngôn ngữ này? Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích–tổng hợp tài liệu, hệ thống hóa lý thuyết và suy luận dạy học dựa trên các khung lý thuyết kiến tạo, TPACK, SAMR và lý thuyết năng lực dịch thuật lai. Kết quả nghiên cứu xác định sáu thành tố của năng lực dịch thuật lai và đề xuất mô hình VCT-AI (Vietnamese–Chinese Translation – AI Integration Model) gồm bốn trụ cột: củng cố nền tảng dịch thuật thủ công; phát triển kỹ năng prompt engineering chuyên ngành Việt–Trung; thực hành hậu biên tập có hướng dẫn; và đánh giá đạo đức cùng năng lực dịch thuật lai. Mô hình được cụ thể hóa qua quy trình dạy học năm bước và hệ tiêu chí đánh giá bốn chiều có phân bổ trọng số. Nghiên cứu đóng góp một khung dạy học dịch thuật chuyên biệt cho cặp Việt–Trung trong kỷ nguyên AI, có ý nghĩa ứng dụng thiết thực cho thiết kế học phần dịch ở bậc đại học, đồng thời đặt nền móng cho các thực nghiệm lớp học tiếp theo.

Thực trạng và giải pháp đảm bảo quyền giữ gìn, phát huy bản sắc của trẻ em trong bối cảnh toàn cầu hóa

Cao Thị Hoài Thu
Tóm tắt | PDF
Quyền giữ gìn, phát huy bản sắc của trẻ em được ghi nhận trong Luật trẻ em năm 2016, thể hiện một cái nhìn đổi mới của Đảng và Nhà nước về vai trò của trẻ em đối với vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Với sự nỗ lực của gia đình, nhà trường và xã hội, công tác bảo đảm quyền giữ gìn và phát huy bản sắc của trẻ em đã đạt được rất nhiều thành tựu đáng kể. Trẻ em trở thành một chủ thể quan trọng để lưu giữ và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Tuy nhiên, dưới tác động của toàn cầu hóa dẫn đến sự xâm nhập của các trào lưu văn hóa không phù hợp. Trước thực trạng đó, bài viết đưa ra một định hướng giải pháp nhằm bảo đảm quyền giữ gìn, phát huy bản sắc của trẻ em, góp phần giữ gìn những tinh hoa văn hóa tốt đẹp của dân tộc trong bối cảnh thời đại mới.

Giáo dục đạo đức thông qua hoạt động trải nghiệm ở các trường tiểu học thành phố Huế

Nguyễn Thanh Bình
Tóm tắt | PDF
Giáo dục đạo đức (GDĐĐ) cho học sinh (HS) là một bộ phận quan trọng, có tính chất nền tảng của quá trình giáo dục toàn diện ở trường tiểu học. Trong những con đường GDĐĐ cho HS, thông qua hoạt động trải nghiệm (HĐTN) là con đường có nhiều ưu thế. Muốn thực hiện công tác GDĐĐ thông qua HĐTN cho HS có chất lượng và hiệu quả, các nhà trường cần xác định được một cách đúng đắn, đầy đủ mục tiêu; vận dụng được các nội dung, phương pháp, hình thức GDĐĐ thông qua HĐTN. Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng GDĐĐ thông qua HĐTN cho HS các trường tiểu học thành phố Huế. 150 giáo viên (GV) của 7 trường tiểu học đã tham gia vào nghiên cứu thông qua việc trả lời phiếu khảo sát. Kết quả nghiên cứu cho thấy, phần lớn GV đều nhận thức được tầm quan trọng của GDĐĐ thông qua HĐTN; các nhà trường đã tổ chức đa dạng các hoạt động GDĐĐ thông qua HĐTN với nội dung, phương pháp và hình thức phù hợp cho HS, bước đầu đã có tác động tích cực, giúp HS rèn luyện và hình thành lối sống phù hợp với chuẩn mực đạo đức. Tuy nhiên hoạt động này vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế do nhiều nguyên nhân. Trong đó, HĐTN vì mới áp dụng ở cấp tiểu học nên việc tổ chức hoạt động GDĐĐ thông qua HĐTN cho HS ở các trường tiểu học vẫn chưa đảm bảo được tính hệ thống, kế hoạch và thường xuyên. Trên cơ sở thực trạng, tác giả đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác GDĐĐ thông qua HĐTN, góp phần phát triển toàn diện nhân cách cho HS và thực hiện thành công chương trình giáo dục phổ thông mới.

Màu sắc của tam giáo trong dự báo Việt (Khảo sát trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam)

Trần Thị Thanh Nhị
Tóm tắt | PDF
Nhu cầu được dự báo là một tâm thức mang tính nhân loại. Dự báo rất đa dạng về loại hình nhưng có thể xếp vào một số nhóm lớn như quan sát những hiện tượng thiên nhiên có sẵn; tiếp xúc với thế giới siêu nhiên thần thánh; tạo ra hệ thống các phương pháp để đoán tương lai. Sự phong phú trên bắt nguồn từ sự đa dạng của các nền văn hoá. Một trong những cơ sở, tiền đề nền tảng cho sự hình thành dự báo Việt nói chung và dự báo trong văn xuôi tự sự trung đại nói riêng là Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo. Chúng biểu hiện vào văn học ở hệ thống nhân vật mang chức năng dự báo; các tư tưởng, triết lý; thực hành tâm linh dự báo. Xuất phát từ việc tiếp nhận tam giáo, nhất là Đạo giáo trên nền văn hoá bản địa cơ tầng Đông Nam Á nên biểu hiện của nó vào dự báo Việt mang đậm dấu ấn văn hoá, lịch sử nước ta.
Xem tất cả số báo