Ngày xuất bản: 20-02-2026

Thái độ và niềm tin vào năng lực bản thân của giáo viên Việt Nam dạy tiếng Anh bậc trung học phổ thông về việc tích hợp công nghệ thông tin và truyền thông trong lớp học

Trương Bạch Lê, Ngô Thanh Nhã
Tóm tắt | PDF (English)
Việc tích hợp Công nghệ Thông tin và Truyền thông (ICT) vào giáo dục đã mang lại những thay đổi đáng kể trong việc dạy và học tiếng Anh. Do đó, nghiên cứu này nhằm mục đích khảo sát thái độ và niềm tin vào năng lực bản thân (self-efficacy beliefs) của các giáo viên tiếng Anh (EFL) tại các trường trung học phổ thông Việt Nam đối với việc tích hợp ICT vào lớp học. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng khám phá xem liệu có mối tương quan nào giữa niềm tin vào năng lực bản thân của giáo viên và thái độ của họ đối với việc tích hợp ICT hay không. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng (bảng câu hỏi) để thu thập dữ liệu. Có 53 giáo viên tiếng Anh người Việt đang công tác tại các trường trung học phổ thông ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long tham gia nghiên cứu. Kết quả cho thấy các giáo viên tiếng Anh nhìn chung có thái độ tích cực ở mức độ vừa phải đối với việc tích hợp ICT và không phản đối việc đưa ICT vào các tiết học của mình. Nghiên cứu cũng ghi nhận rằng các giáo viên cảm thấy tự tin khi thực hiện các tác vụ đơn giản bằng ICT, nhưng lại thiếu niềm tin vào năng lực bản thân khi tích hợp ICT cho các tác vụ phức tạp hơn. Cuối cùng, nghiên cứu không tìm thấy mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa niềm tin vào năng lực bản thân của giáo viên tiếng Anh và thái độ của họ đối với việc tích hợp ICT.

Nghiên cứu về thực hành phản tư như một công cụ phát triển nghề nghiệp của giáo sinh tiếng Anh tại Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế

Trần Thị Thu Thanh, Lê Phạm Hoài Hương
Tóm tắt | PDF (English)
Nghiên cứu này nhằm khảo sát thực hành phản tư như một công cụ hỗ trợ phát triển nghề nghiệp của giáo sinh tiếng Anh tại Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế (HUFLIS). Đối tượng tham gia nghiên cứu gồm 100 sinh viên năm thứ ba và năm thứ tư của trường. Dữ liệu được thu thập thông qua bảng hỏi và phỏng vấn. Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số sinh viên nhận thức rõ thực hành phản tư là một công cụ hiệu quả trong phát triển nghề nghiệp. Bên cạnh đó, họ cũng có nhận thức tích cực về cách thức thực hiện hoạt động phản tư cũng như việc tự đánh giá quá trình thực hành phản tư của bản thân. Dựa trên các kết quả nghiên cứu và những hạn chế của đề tài, nghiên cứu đã đề xuất một số hàm ý và khuyến nghị nhằm hỗ trợ giáo sinh tiếng Anh thực hiện thực hành phản tư hiệu quả hơn, qua đó thúc đẩy sự phát triển nghề nghiệp của họ

Nghiên cứu chiến lược học ngữ pháp của học sinh học tiếng Anh lớp 9 tại Trường Trung học cơ sở Triệu Long, tỉnh Quảng Trị

Nguyễn Thị Vân Anh, Trương Bạch Lê
Tóm tắt | PDF (English)
Nghiên cứu này khảo sát các chiến lược học ngữ pháp được học sinh học tiếng Anh lớp 9 tại Trường Trung học cơ sở Triệu Long sử dụng, các ứng dụng thực tế của chúng, và những khác biệt trong việc sử dụng chiến lược giữa học sinh nam và học sinh nữ. Nghiên cứu áp dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp dữ liệu định lượng thu thập từ 83 học sinh (41 nam, 42 nữ) qua bảng câu hỏi và dữ liệu định tính từ các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc với 10 học sinh. Dữ liệu định lượng được phân tích bằng phần mềm SPSS, trong khi dữ liệu định tính được xử lý bằng phương pháp phân tích theo chủ đề. Kết quả cho thấy học sinh sử dụng đa dạng các chiến lược học ngữ pháp, trong đó có sự ưu tiên dành cho các chiến lược tình cảm, siêu nhận thức, và nhận thức. Các công cụ kỹ thuật số như trang web và ứng dụng được sử dụng phổ biến, và việc học hợp tác cũng được ưa chuộng. Nghiên cứu tìm thấy ít sự khác biệt đáng kể về giới tính trong việc sử dụng chiến lược, khi học sinh nữ ưu tiên các chiến lược xã hội, trong khi học sinh nam nghiêng nhiều hơn về các chiến lược nhận thức. Nghiên cứu này đưa ra những hàm ý thực tiễn nhằm nâng cao việc học ngữ pháp thông qua việc cải thiện phương pháp giảng dạy ngữ pháp, các hoạt động giáo dục, và thiết kế chương trình học.

Tính đều của tập hữu hạn điểm trong mặt phẳng xạ ảnh

Trần Thị Anh Phương, Lê Thị Thu Vi, Hoàng Thị Như Ý
Tóm tắt | PDF (English)
Với  là một tập hợp hữu hạn gồm s điểm phân biệt trong không gian xạ ảnh , chúng tôi quan tâm đến việc nghiên cứu tính đều của tập điểm đó. Khi n = 2 và  là (i, j)-đều, chúng tôi đưa ra một chặn dưới cho số s và chứng minh một điều kiện đủ để  nằm trên một đường thẳng.

Con người và ChatGPT trong việc dịch một số bài thơ tình tiếng Anh sang tiếng Việt: Một nghiên cứu ngữ liệu theo phương pháp hỗn hợp

Nguyễn Bạch Yến Ngân, Phan Thị Thanh Thảo
Tóm tắt | PDF (English)
Trong những năm gần đây, trí tuệ nhân tạo đã nhận được sự quan tâm đáng kể vì sự ảnh hưởng to lớn của nó đến đời sống con người, đặc biệt là trong lĩnh vực dịch thuật văn học. Do đó, nghiên cứu này nhằm so sánh một số bài thơ tình tiếng Anh được dịch sang tiếng Việt bởi dịch giả con người và AI, từ đó biết được những điểm tương đồng và khác biệt giữa bản dịch của con người và AI trong việc chuyển ngữ thơ tình tiếng Anh sang tiếng Việt ở lĩnh vực dịch thuật văn học. Nguồn dữ liệu nghiên cứu bao gồm 30 bài thơ tình tiếng Anh cùng với 30 bản dịch tiếng Việt của con người và 30 bản dịch tiếng Việt của AI. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính để phân tích và so sánh các bản dịch của con người và AI về chất lượng ý nghĩa, khả năng thích ứng văn hoá, độ chính xác và biểu đạt cảm xúc. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp định lượng để thống kê các kỹ thuật dịch được sử dụng trong từng bản dịch. Một bảng đánh giá ba chiều cũng được thiết lập nhằm đảm bảo tính tin cậy và chính xác của kết quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy cả AI và con người đều có thể truyền tải được ý nghĩa cơ bản trong bản dịch thơ tình và sử dụng một số kỹ thuật dịch cơ bản. Tuy nhiên, bản dịch của AI có độ chính xác cao về cấu trúc và từ vựng, trong khi bản dịch của con người thể hiện được chiều sâu cảm xúc và sự nhạy bén văn hoá. Những phát hiện này cho thấy dịch máy có thể đóng vai trò là công cụ hỗ trợ hữu ích cho dịch giả trong việc dịch thơ tình, giúp tiết kiệm thời gian và nâng cao độ chính xác. Kết quả nghiên cứu đóng góp thêm kiến thức, dữ liệu và góc nhìn mới cho lĩnh vực này, đồng thời mang lại lợi ích cho người học, người dạy và các chương trình đào tạo dịch thuật.

Biện pháp giúp giáo viên mầm non có thái độ đúng đắn đối với việc trẻ 5-6 tuổi tham gia lớp tiền tiểu học

Trần Thị Thủy Thương Ngọc, Hoàng Anh Dũng
Tóm tắt | PDF
Thái độ của giáo viên đối với việc trẻ 5-6 tuổi tham gia lớp tiền tiểu học thể hiện qua nhận thức, cảm xúc và hành vi của họ. Bài viết này trình bày kết quả nghiên cứu trên 60 giáo viên dạy lớp mẫu giáo 5-6 tuổi tại 03 trường mầm non trên địa bàn Thành phố Huế. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tất cả các biểu hiện về nhận thức, cảm xúc và hành vi đều ở mức trung bình. Trong đó, mặt nhận thức có mức độ cao hơn, cảm xúc và hành vi có mức độ thấp hơn. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng, bài viết đưa ra các giải pháp nhằm giúp giáo viên mầm non có thái độ đúng đắn đối với việc trẻ 5-6 tuổi học lớp tiền tiểu học.

Thực trạng quản lý hoạt động xây dựng trường học hạnh phúc ở các trường tiểu học quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh

Nguyễn Kim Oanh
Tóm tắt | PDF
Trong bối cảnh hiện nay, xây dựng trường học hạnh phúc vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện giáo dục quan trọng để triển khai hiệu quả chương trình giáo dục phổ thông 2018 trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục. Xây dựng trường học hạnh phúc ở trường tiểu học chính là tạo ra môi trường giáo dục không có bạo lực học đường, không có hành vi vi phạm đạo đức nhà giáo. Trong trường học hạnh phúc, học sinh, giáo viên, nhà quản lý, cha mẹ học sinh đều có thể cảm thấy được an toàn, hạnh phúc. Bài viết này trình bày thực trạng quản lý hoạt động xây dựng trường học hạnh phúc ở các trường tiểu học quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, công tác quản lý hoạt động xây dựng trường học hạnh phúc ở các trường tiểu học trên địa bàn khảo sát đã đạt được những kết quả tích cực, tuy nhiên vẫn còn tồn tại không ít những hạn chế, bất cập. Việc nghiên cứu thực trạng là căn cứ quan trọng để chúng tôi đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xây dựng trường học hạnh phúc ở các trường tiểu học.

Thiết kế phiếu bài tập ôn luyện Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 theo hướng phát triển năng lực

Bùi Thị Giang
Tóm tắt | PDF
Đổi mới chương trình đã mang đến những cơ hội và thách thức mới cho giáo dục tiểu học. Cùng với sách giáo khoa, các tài liệu bổ trợ gắn với từng đối tượng học sinh luôn được các nhà giáo dục ưu tiên lựa chọn nhằm phát triển tốt nhất năng lực người học. Thiết kế phiếu bài tập ôn luyện Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 là một thể nghiệm nhằm đa dạng hoá tài liệu dạy học, giúp học sinh chủ động hơn trong hoạt động thực hành Tiếng Việt và tự đánh giá chất lượng đọc, viết, nói và nghe. Từ các nghiên cứu lý luận và thực tiễn, bài viết đã đề xuất một quy trình thiết kế phiếu bài tập ôn luyện Tiếng Việt và tường minh bằng các thiết kế minh hoạ chi tiết, sống động

Tích hợp giáo dục văn hóa Huế trong dạy học Tiếng Việt lớp 1, 2, 3

Trần Thị Quỳnh Nga, Đào Thị Hường
Tóm tắt | PDF
Văn hoá Huế hội tụ những vẻ đẹp tinh tuý của cảnh sắc, kiến trúc, của thiên nhiên và trí tuệ con người. Tích hợp giáo dục văn hoá Huế trong dạy học Tiếng Việt lớp 1, 2, 3 là một thử nghiệm dạy học tích hợp nhằm thúc đẩy văn hoá Huế trong nhà trường tiểu học, đồng thời góp phần làm cho các giờ học trở nên sống động hơn, thú vị hơn. Bài viết cũng nêu rõ ba biện pháp cơ bản có thể áp dụng nhằm thực hiện tích hợp giáo dục văn hoá Huế thông qua dạy học môn Tiếng Việt, bao gồm: bổ sung nguồn tư liệu đọc về văn hoá Huế, xây dựng hệ thống bài tập thực hành và triển khai các hoạt động ngoại khoá.

Quản lý hoạt động giáo dục năng lực giao tiếp cho học sinh ở trường tiểu học

Phạm Thị Thúy Hằng, Nguyễn Thị Liên
Tóm tắt | PDF
Trong bối cảnh triển khai Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, năng lực giao tiếp (NLGT) được xác định là năng lực cốt lõi cần hình thành cho học sinh tiểu học. Tiếp cận lý thuyết hệ thống, quản lý hoạt động giáo dục (HĐGD) NLGT được xem là quá trình tác động có mục đích đến các thành tố: mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, phối hợp lực lượng, điều kiện đảm bảo và đánh giá kết quả theo định hướng phát triển năng lực. Nghiên cứu khảo sát tại Trường Tiểu học Xuân Thới Thượng (huyện Hóc Môn, TP.HCM) nhằm đánh giá thực trạng quản lý HĐGD NLGT. Phương pháp hỗn hợp được sử dụng, gồm khảo sát 165 cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh và phỏng vấn 12 đối tượng để làm rõ dữ liệu định lượng. Kết quả cho thấy công tác quản lý được triển khai khá toàn diện, với điểm trung bình cao ở đa số tiêu chí về mức độ thực hiện và hiệu quả. Tuy nhiên, vẫn còn hạn chế như: chưa cụ thể hóa mục tiêu theo độ tuổi; bồi dưỡng giáo viên chưa thường xuyên; phối hợp với gia đình và cộng đồng thiếu chặt chẽ; phân bổ nguồn lực và cơ chế đánh giá chưa linh hoạt. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất năm nhóm biện pháp quản lý theo hướng đồng bộ giữa các thành tố nhằm nâng cao hiệu quả HĐGD NLGT ở trường tiểu học, góp phần bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý giáo dục trong bối cảnh đổi mới

Kỹ thuật điều chỉnh câu hỏi, bài tập đáp ứng mục tiêu phát triển năng lực đọc hiểu của học sinh lớp 4

Trịnh Cam Ly, Dương Thị Bích Thuận
Tóm tắt | PDF
Năng lực đọc hiểu của học sinh lớp 4 có thể được hình thành, củng cố và phát triển bằng nhiều cách thức, con đường. Điều chỉnh, bổ sung câu hỏi, bài tập đọc hiểu văn bản phù hợp với từng nhóm đối tượng học sinh ở các giai đoạn học tập khác nhau là một trong những giải pháp hỗ trợ học sinh hình thành, củng cố và phát triển năng lực đọc hiểu. Giải pháp này đáp ứng nguyên tắc vừa sức, tạo sức đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu dạy học phân hoá mà CTGDPT 2018 đặt ra. Những kỹ thuật trình bày: điều chỉnh câu hỏi, bài tập theo hướng giảm độ khó, tăng độ khó, tăng độ thú vị tạo điều kiện cho giáo viên linh hoạt trong thực hiện chương trình và sử dụng ngữ liệu dạy học, đồng thời mở ra những hướng tiếp cận góp phần thực hiện hiệu quả chương trình và sách giáo khoa mới.

Sử dụng tư liệu văn học trong thiết kế và dạy học các chủ đề đạo đức (môn Giáo dục công dân chương trình 2018)

Đặng Xuân Điều, Nguyễn Tăng Nhật
Tóm tắt | PDF
Các công trình nghiên cứu của nhiều nhà giáo dục học danh tiếng đã cho thấy đối với quá trình dạy học nội dung đạo đức trong nhà trường thì tư liệu văn học luôn được là phương tiện mang lại hiệu quả cao. Điều này xuất phát từ đặc thù tri thức của nội dung đạo đức, đặc điểm tâm - sinh lí lứa tuổi cũng như quy luật nhận thức và tư duy của học sinh. Tư liệu văn học sẽ tạo cơ hội giúp học sinh xác lập một thái độ đối với các hiện tượng của đời sống xung quanh, giúp hình thành niềm tin đạo đức và rèn luyện hành vi ứng xử phù hợp với các chuẩn mực đạo đức của xã hội. Bài báo tập trung phân tích cách thức sử dụng tư liệu văn học để thiết kế và dạy học các chủ đề đạo đức có trong chương trình môn Giáo dục công dân 2018 đang được triển khai hiện nay

Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh ở các trường trung học cơ sở huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh

Hoàng Quang Diễn
Tóm tắt | PDF
Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong nhà trường trung học cơ sở nhằm hình thành ở người học những nhận thức đúng đắn về giá trị sống, đồng thời rèn luyện kỹ năng lựa chọn giá trị sống phù hợp, phát huy các giá trị tốt đẹp của mỗi cá thể. Bài viết trình bày các cơ sở lý luận đã khảo cứu về giá trị sống, hoạt động giáo dục giá trị sống, quản lý giáo dục; từ đó nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh ở các trường trung học cơ sở tại huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Các đánh giá bước đầu về tính hiệu quả trong quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống trên 7 tiêu chí đo là căn cứ quan trọng để đề xuất những giải pháp sư phạm nhằm thúc đẩy và nâng cao năng lực quản lý hoạt động, chất lượng tổ chức các hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở trong bối cảnh đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay

Tổ chức dạy học thực địa trong môn Giáo dục công dân để phát triển năng lực phát triển bản thân cho học sinh

Hoàng Phi Hải
Tóm tắt | PDF
Trong các môn học nói chung và môn Giáo dục công dân (GDCD) nói riêng, dạy học thực địa là hình thức dạy học có tính trải nghiệm cao, giúp học sinh (HS) kết nối các nội dung tri thức được tiếp thu với các hoạt động thực tiễn. Để tiến hành được những hoạt động này, HS dưới sự hướng dẫn của giáo viên (GV) tiến hành xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch tại các địa điểm ngoài lớp học. Từ đây, HS nhận thức được những điểm yếu và điểm mạnh của bản thân để chủ động sửa đổi và phát huy chúng. Trong phạm vi nghiên cứu của bài báo này, chúng tôi tập trung nghiên cứu dạy học thực địa trong môn GDCD hướng tới phát triển năng lực phát triển bản thân cho HS ở trường trung học cơ sở (THCS).

Sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong môn Giáo dục kinh tế và pháp luật lớp 10 ở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị

Nguyễn Thành Minh, Lê Thị Hồng Hạnh
Tóm tắt | PDF
Dạy học giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học tích cực được áp dụng ở nhiều nền giáo dục trên thế giới. Đây cũng là phương pháp dạy học được khuyến khích thực hiện trong Chương trình môn Giáo dục kinh tế và pháp luật năm 2018. Nghiên cứu này nhằm làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học giải quyết vấn đề; đánh giá kết quả thực nghiệm dạy học giải quyết vấn đề trong môn Giáo dục kinh tế và pháp luật ở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị và đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả của phương pháp dạy học này trong môn Giáo dục kinh tế và pháp luật.

Thiết kế chủ đề STEM “Điện năng và đời sống” trong dạy học Vật lý theo định hướng bồi dưỡng năng lực

Huỳnh Thị Lành, Quách Nguyễn Bảo Nguyên, Trương Minh Chính, Bùi Công Dũng
Tóm tắt | PDF
Giáo dục STEM là mô hình đang được triển khai trong nhiều chương trình giáo dục trên thế giới. STEM được xem là giải pháp hiệu quả nhằm đưa lý thuyết đến gần thực tiễn, trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng cần thiết liên quan đến các lĩnh vực khác nhau. Từ đó, thông qua việc triển khai hoạt động STEM trong dạy học sẽ huấn luyện những kỹ năng cơ bản cho HS nhằm đáp ứng yêu cầu của người lao động trong giai đoạn mới. Vật lý với đặc trưng các kiến thức gắn liền với thực tiễn nên có nhiều cơ hội để có thể vận dụng mô hình này vào dạy học. “Điện năng và đời sống” là một trong những nội dung có tính thực tiễn cao trong Chương trình Vật lý phổ thông 2018. Tuy nhiên, trong thực tế nội dung này chưa được triển khai nhiều, HS chưa phát huy hết năng lực của cá nhân, HS chưa áp dụng được nhiều kiến thức để phục vụ cuộc sống hằng ngày. Để tăng cường khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nội dung bài báo trình bày về việc xây dựng và triển khai một số chủ đề STEM trong dạy học phần “Điện năng và đời sống” trong dạy học Vật lý.

Thực trạng vận dụng dạy học khám phá để phát triển năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ hóa học cho học sinh

Nguyễn Thị Thùy Trang
Tóm tắt | PDF
Năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ hóa học là một trong ba thành phần chính của năng lực hóa học cần phát triển cho học sinh, được xác định trong chương trình giáo dục phổ thông mới. Các bước trong tiến trình dạy học khám phá phù hợp với các biểu hiện trong năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ hóa học nên tạo nhiều cơ hội để học sinh được phát triển năng lực này. Bài báo đã thiết kế công cụ khảo sát dựa trên cơ sở lý thuyết về dạy học khám phá, năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên. Công cụ khảo sát được chuẩn hóa thông qua tính toán giá trị Cronbach’s Alpha, Corrected Item-Total Correlation đối với kết quả khảo sát thử nghiệm trên 50 giáo viên. Công cụ khảo sát chính thức được sử dụng trên 102 giáo viên và 150 học sinh nhằm mục đích đánh giá năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ hóa học và mức độ giáo viên vận dụng dạy học khám phá trong phát triển năng lực này cho học sinh

Thực trạng đánh giá sự phát triển của trẻ: Nghiên cứu trường hợp tại Trường Mầm non Bảo Hòa, xã Xuân Định, tỉnh Đồng Nai

Nguyễn Bá Phu, Nguyễn Thị Hải Yến
Tóm tắt | PDF
Đánh giá sự phát triển của trẻ giữ vai trò then chốt trong Giáo dục Mầm non, giúp giáo viên điều chỉnh hoạt động chăm sóc, giáo dục và hỗ trợ trẻ phát triển toàn diện. Nghiên cứu này nhằm mô tả thực trạng đánh giá trẻ tại Trường Mầm non Bảo Hòa, qua khảo sát 39 cán bộ quản lý và giáo viên bằng bảng hỏi kết hợp phỏng vấn. Công cụ khảo sát theo thang đo Likert 4 mức phản ánh các thành tố cốt lõi của hoạt động đánh giá. Kết quả cho thấy hoạt động đánh giá tại đơn vị đã được triển khai nhưng còn thiếu đồng đều giữa các lĩnh vực; giáo viên chủ yếu dựa vào quan sát, trong khi những phương pháp đòi hỏi tương tác hoặc phân tích sâu chưa được sử dụng thường xuyên. Sự tham gia của các lực lượng vẫn nghiêng về phía giáo viên và một số điều kiện hỗ trợ, đặc biệt là tài liệu hướng dẫn và bộ công cụ đánh giá còn hạn chế. Những phát hiện này cho thấy cần tăng cường bồi dưỡng năng lực đánh giá, mở rộng sự phối hợp giữa các lực lượng và hoàn thiện công cụ đánh giá nhằm nâng cao chất lượng đánh giá sự phát triển của trẻ.

Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng trò chơi học tập trong dạy học theo định hướng “học thông qua chơi” ở trường phổ thông

Phan Hoàng Hải, Lê Thị Cẩm Tú, Trương Thị Phương Thảo
Tóm tắt | PDF
“Học thông qua chơi” là một trong những xu hướng dạy học hiện nay có thể góp phần tích cực hoá được hoạt động nhận thức và tạo hứng thú cho học sinh trong học tập. Việc sử dụng trò chơi học tập là một trong những hình thức tổ chức của xu hướng dạy học này. Thông qua việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học, sẽ tăng khả năng tập trung chú ý của học sinh, kích thích sự tham gia tích cực, giúp các em hình thành được phẩm chất và năng lực đáp ứng xu thế hiện nay. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về trò chơi học tập và việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học theo định hướng “Học thông qua chơi”, trong bài báo này, tác giả sẽ đề xuất một số biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng trò chơi học tập theo định hướng “Học thông qua chơi”, qua đó cũng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học các môn học ở trường phổ thông

Ngôn ngữ lập trình Python - vị thế mới trong chương trình giáo dục phổ thông 2018

Nguyễn Tú Hà, Nguyễn Phạm Yến Nhi, Trương Minh Chính
Tóm tắt | PDF
Ngôn ngữ lập trình Python đang dần chiếm vị thế trong việc dạy Tin học hiện nay ở trường phổ thông nhờ vào những đặc điểm nổi trội như: tính mới, tính linh hoạt, đơn giản, dễ học, dễ hiểu, khả năng ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực hiện đại,… Có thể thấy rằng, ngôn ngữ lập trình Python sẽ là một phương tiện quan trọng để phát triển năng lực của người học, giúp học sinh hình thành năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, có tư duy độc lập. Từ đó, có khả năng chủ động tìm kiếm, tiếp nhận, phát triển tri thức, đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng làm chủ công nghệ, làm chủ máy móc để phù hợp với sự thay đổi cơ cấu ngành nghề trong tương lai. Bài báo này sẽ trình bày một số vấn đề về ưu, nhược điểm của ngôn ngữ lập trình Python và vị thế mới của ngôn ngữ này trong chương trình giáo dục phổ thông hiện nay

Vận dụng mô hình B-Learning dạy học chuyên đề “Vật lý trong một số ngành nghề” theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học

Quách Nguyễn Bảo Nguyên, Nguyễn Hoàng Anh, Trần Thị Thuý Hoa
Tóm tắt | PDF
Blended learning (B-Learning) là một hình thức dạy học mở kết hợp giữa dạy học truyền thống trên lớp với dạy học hiện đại E-learning. Trong dạy học Vật lý ở trường phổ thông, việc tổ chức dạy học theo mô hình kết hợp là một trong những giải pháp hữu hiệu giúp tăng cường khả năng tự học của học sinh. Bài viết giới thiệu về nghiên cứu vận dụng mô hình B-Learning nhằm bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh trong dạy học chuyên đề “Vật lý trong một số ngành nghề”. Kết quả thực nghiệm sư phạm đã cho thấy việc vận dụng mô hình B-Learning vào dạy học có thể bồi dưỡng được năng lực tự học của học sinh. Các kết quả bước đầu đã cho thấy tính khả thi của hướng nghiên cứu

Dạy học kiểu bài nói và nghe “thảo luận về một vấn đề có ý kiến khác nhau” trong chương trình giáo dục phổ thông 2018: Thực trạng và đề xuất phương pháp

Nguyễn Thị Hoài Phương, Trần Thị Huyền Gấm, Phan Thị Hương Giang
Tóm tắt | PDF
Trong chương trình GDPT môn Ngữ văn, rèn luyện kỹ năng nói và nghe cho học sinh hướng đến phát triển các năng lực về ngôn ngữ và văn học cho người học. Trong đó nói và nghe chủ yếu hướng trọng tâm đến việc phát triển năng lực ngôn ngữ (biểu hiện của năng lực giao tiếp - một trong những năng lực chung được quy định trong chương trình GDPT năm 2018). Ở bài viết này, chúng tôi hướng đến làm rõ các vấn đề thực tiễn của kiểu bài nói và nghe “Thảo luận về một vấn đề có ý kiến khác nhau” trong chương trình GDPT 2018 môn Ngữ văn. Trên cơ sở tìm hiểu và phân tích các đặc trưng của kiểu bài “thảo luận” theo quan điểm dạy học hiện đại, chúng tôi tiến hành khảo sát nội dung dạy học nói và nghe trong chương trình GDPT 2018, môn Ngữ văn và mô tả các bài dạy học nói và nghe kiểu bài “Thảo luận về một vấn đề có ý kiến khác nhau” được triển khai trong ba bộ sách (Kết nối tri thức với cuộc sống; Chân trời sáng tạo; Cánh diều). Từ kết quả nghiên cứu thực tiễn đối chiếu với cơ sở lí luận về kiểu bài “Thảo luận” để đề xuất các định hướng về phương pháp dạy tích cực tương ứng.

Mối quan hệ giữa vấn đề sức khỏe tâm thần và hành vi nghiện điện thoại thông minh của sinh viên: Một nghiên cứu cắt ngang

Nguyễn Thị Ngọc Bé, Nguyễn Phương Hồng Ngọc, Phạm Thị Thúy Hằng, Mai Thị Thanh Thủy
Tóm tắt | PDF
Mục đích của nghiên cứu này là tìm hiểu mối quan hệ giữa stress, lo âu, trầm cảm, chất lượng giấc ngủ và hành vi nghiện điện thoại thông minh (ĐTTM) ở sinh viên đại học. 905 sinh viên từ 4 trường đại học tại thành phố Huế đã tham gia vào nghiên cứu và hoàn thành bảng hỏi gồm các câu hỏi nhân khẩu học, thang đo nghiện ĐTTM (SAS – SV), thang đánh giá lo âu – trầm cảm – stress (DASS-21) và thang đo chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (PSQI). Kết quả nghiên cứu cho thấy 38,0% sinh viên nghiện sử dụng ĐTTM, có tương quan thuận giữa mức độ stress, lo âu, trầm cảm, chất lượng giấc ngủ và hành vi nghiện ĐTTM của sinh viên. Một số khuyến nghị cho nghiên cứu trong tương lai được đưa ra

Thực trạng và biện pháp quản lý hoạt động truyền thông sự kiện cho sinh viên tại Trường Đại học Sài Gòn

Trần Tú Uyên
Tóm tắt | PDF
Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập hiện nay, hoạt động truyền thông sự kiện trong trường học có những bước phát triển mạnh mẽ, kéo theo yêu cầu gia tăng vai trò, hiệu quả quản lý hoạt động truyền thông cho sinh viên của các trường đại học. Bài viết tập trung khảo cứu, phân tích các vấn đề lý luận cơ bản về quản lý truyền thông sự kiện; thực hiện khảo sát bằng phiếu hỏi các phương diện khác nhau của thực trạng quản lý hoạt động truyền thông sự kiện cho sinh viên tại Trường Đại học Sài Gòn. Sáu biện pháp đề xuất trong nghiên cứu này kì vọng có thể góp phần nâng cao hiệu quả quản lý truyền thông sự kiện cho sinh viên trên các phương diện: quản trị đội ngũ, cải thiện năng lực truyền thông số, chuyển giao quyền chủ động cho sinh viên

Kỹ năng quản lý cảm xúc của giáo viên giáo dục đặc biệt: Nghiên cứu tại Trung tâm Hỗ trợ Phát triển Giáo dục Hòa nhập Thiện Nhân – phường Thủy Nguyên – thành phố Hải Phòng

Phan Thị Hiền, Nguyễn Phước Cát Tường
Tóm tắt | PDF
Nghiên cứu khảo sát kỹ năng quản lý cảm xúc của 60 giáo viên giáo dục đặc biệt tại Trung tâm Hỗ trợ Phát triển Giáo dục Hòa nhập Thiện Nhân (Hải Phòng), tập trung vào hai chiến lược điều chỉnh cảm xúc gồm thay đổi nhận thức và kìm nén cảm xúc. Công cụ Emotion Regulation Questionnaire (ERQ) được sử dụng để đo lường; dữ liệu được phân tích bằng thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy và phép kiểm Mann–Whitney U. Kết quả cho thấy điểm trung bình thay đổi nhận thức tương đối cao, cho thấy giáo viên có xu hướng điều chỉnh cảm xúc theo hướng tích cực. Tuy nhiên, kìm nén cảm xúc vẫn được sử dụng ở mức đáng kể, phản ánh việc giáo viên thường xuyên che giấu hoặc kiềm chế cảm xúc trong môi trường làm việc. Điều này cho thấy kỹ năng quản lý cảm xúc của họ còn nhiều hạn chế, bởi việc phụ thuộc vào kìm nén có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tâm lý và hiệu quả giảng dạy. Phân tích theo nhóm cho thấy áp lực công việc và chất lượng quan hệ với đồng nghiệp, cấp trên có ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng chiến lược thay đổi nhận thức; trong khi đó, độ tuổi liên quan đến khuynh hướng tăng mức độ kìm nén. Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết của các biện pháp can thiệp ở cả cấp cá nhân và tổ chức, nhằm giảm sự phụ thuộc vào kìm nén cảm xúc và tăng cường sử dụng các chiến lược điều chỉnh cảm xúc hiệu quả, bền vững hơn.

Cổ mẫu anh hùng và dấu ấn giải huyền thoại trong Viên ngọc trai của John Steinbeck

Nguyễn Thị Thu Hằng
Tóm tắt | PDF
Bằng cách thức tiếp cận tâm lí-huyền thoại và lịch sử-xã hội, bài viết khám phá sự tái sinh cổ mẫu anh hùng trong tiểu thuyết Viên ngọc trai của Steinbeck qua việc đối chiếu cấu trúc vòng đời của nhân vật anh hùng trong tác phẩm với mô hình gốc trong truyện kể dân gian. Những nét tương đồng và khác biệt với cổ mẫu gốc là cơ sở để làm rõ sự kế thừa huyền thoại, trầm tích văn hóa dân tộc, nhân loại và sự giải thiêng huyền thoại người hùng Mỹ trong tác phẩm của Steinbeck. Tái sinh cổ mẫu anh hùng và giải huyền thoại người hùng cũng là những phương thức nghệ thuật hữu hiệu, những cách thức cắt nghĩa hiện thực mới mẻ để chuyển tải những thông điệp nhân văn, giàu tính đối thoại trong tiểu thuyết Viên ngọc trai của John Steinbeck.

Không – Thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn của Nagai Kafū nhìn từ ý thức thẩm mỹ Nhật Bản

Nguyễn Hữu Minh, Đàm Thị Mai
Tóm tắt | PDF
Nagai Kafū là một trong những nhà văn Nhật Bản tiêu biểu thời cận hiện đại, nổi tiếng với cảm quan thẩm mỹ tinh tế và sự hoài cổ về văn hóa truyền thống Edo. Truyện ngắn của ông không chỉ hấp dẫn độc giả bởi các đề tài về geisha hay văn hóa Edo, mà còn từ cách ông kiến tạo không – thời gian bi cảm và không – thời gian bất toàn. Hai kiểu không – thời gian này vừa thể hiện cảm quan thiên nhiên, bốn mùa và văn hóa truyền thống của người Nhật vừa cho thấy cách con người đối diện với sự vô thường, mong manh và hữu hạn của kiếp sống. Bằng phương pháp cấu trúc – hệ thống, liên ngành, cách tiếp cận thi pháp học và mỹ học Nhật Bản, bài viết làm rõ sự sáng tạo của Kafū trong việc xây dựng không – thời gian nghệ thuật, cũng như sự tiếp nối và phát huy tinh thần mỹ học truyền thống trong tiến trình văn học Nhật Bản thời cận hiện đại. Qua đó, cách nhìn bi cảm và ý thức về sự bất toàn trong thế giới không – thời gian đã thể hiện ý thức thẩm mỹ Nhật Bản, đồng thời bộc lộ chiều sâu hiện sinh trong quan niệm nghệ thuật của tác giả.

Sự lãnh đạo của Đảng ủy khu vực Vĩnh Linh đối với nhiệm vụ chi viện, tiếp tế đảo Cồn Cỏ trong những năm 1964 - 1968

Nguyễn Chí Hiếu
Tóm tắt | PDF
Từ năm 1964, Mỹ bắt đầu đánh phá nhằm hủy diệt đảo Cồn Cỏ với cường độ oanh tạc ngày một tăng, cuộc sống và sự chiến đấu của cán bộ, chiến sỹ trên đảo gặp muôn vàn khó khăn, gian khổ, hy sinh. Trước nguy cơ sống còn của đảo, Đảng ủy Khu vực Vĩnh Linh đã tổ chức họp ra nghị quyết, trong đó nhấn mạnh: “Tất cả vì Cồn Cỏ thân yêu”, “Đất liền còn, Cồn Cỏ còn”. Đảng ủy Khu vực đã tổ chức nhiều phiên họp, ban hành gần 30 chỉ thị, nghị quyết, kế hoạch và hàng trăm cuộc điện đàm quan trọng để quân và dân Vĩnh Linh mở “con đường máu” tiếp tế, chi viện súng đạn, thuốc men, lương thực, thực phẩm… cho đảo. Sự lãnh đạo đúng đắn, kịp thời của Đảng ủy Khu vực Vĩnh Linh là điều kiện tiên quyết, nhân tố quyết định làm nên thắng lợi của cán bộ, chiến sĩ trên đảo Cồn Cỏ.

Quan hệ giữa hai miền Bắc – Nam Việt Nam những năm 1954 –1958 nhìn từ hoạt động trao đổi kinh tế ở khu vực Giới tuyến quân sự tạm thời

Hoàng Chí Hiếu, Huỳnh Tô Minh Châu
Tóm tắt | PDF
Với Hiệp định Genève (21-7-1954), Việt Nam tạm chia thành hai miền, lấy sông Hiền Lương - Vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời. Dưới sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ, chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam đã cự tuyệt tổ chức tổng tuyển cử để tái thống nhất đất nước và cắt đứt quan hệ giữa hai miền. Tuy nhiên, tại khu vực giới tuyến, hoạt động trao đổi kinh tế vẫn được duy trì cho đến cuối năm 1958. Hoạt động này không chỉ góp phần ổn định đời sống nhân dân ở hai bên giới tuyến mà còn giúp duy trì liên lạc giữa hai miền trong bối cảnh đất nước bị chia cắt. Thông qua việc làm rõ tình hình trao đổi kinh tế ở khu vực giới tuyến trên các phương diện như tình hình đi lại và kim ngạch buôn bán, mặt hàng và giá cả, bài báo rút ra một số nhận xét về quan hệ giữa hai miền Bắc Nam Việt Nam những năm 1954-1958.

Các chiến lược ứng phó trong quản trị nhân lực của các khách sạn trên địa bàn thành phố Huế dưới tác động của đại dịch Covid-19

Trần Thị Thu Hiền
Tóm tắt | PDF
Hoạt động quản trị nhân lực có ý nghĩa chiến lược đối với sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm đánh giá chiến lược ứng phó trong hoạt động quản trị nhân lực của các khách sạn trên địa bàn thành phố Huế thời kỳ Covid-19. Nghiên cứu này đã sử dụng phương pháp định lượng dựa trên việc khảo sát 42 lãnh đạo của các khách sạn được xếp hạng từ 1 sao – 5 sao trên địa bàn thành phố Huế. Kết quả cho thấy đa số các khách sạn đều khá lúng túng trong việc xây dựng các kế hoạch ứng phó trong hoạt động quản trị nhân lực trước bối cảnh đại dịch Covid-19. Hoạt động duy trì nguồn nhân lực và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cũng chưa được quan tâm đúng mức. Trong giai đoạn sau giãn cách, công tác thu hút nguồn nhân lực chưa đạt hiệu quả trong khi đó mối liên hệ với các cơ sở đào tạo chưa chặt chẽ. Nghiên cứu góp phần giúp các khách sạn trên địa bàn có chiến lược ứng phó phù hợp trong quản trị nhân lực trước bối cảnh đại dịch Covid-19.

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng

Lê Phúc Chi Lăng, Phạm Vũ Hà An, Phan Anh Hằng, Huỳnh Thị Diễm Hằng
Tóm tắt | PDF
Để đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát thực địa, thu thập số liệu và tài liệu kết hợp với phương pháp phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng đất; phương pháp phân tích SWOT và phương pháp tổng hợp, thống kê và xử lý số liệu. Kết quả cho thấy: hiệu quả kinh tế đối với cây hằng năm cao nhất là cây hoa, thấp nhất là cây ngô; đối với cây lâu năm thì cây bơ có hiệu quả cao hơn cây cà phê (hiệu quả đồng vốn lần lượt đạt 4,07 lần và 2,11 lần). Hiệu quả xã hội của cây hằng năm cao nhất là rau và thấp nhất là khoai lang; đối với cây lâu năm thì cây cà phê cho hiệu quả cao hơn cây bơ. Hiệu quả môi trường trong sản xuất cây lâu năm chưa cao do hậu quả của việc sử dụng thuốc BVTV, phân bón quá mức. Cần thực hiện kết hợp các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

Tổng hợp và đặc trưng vật liệu Cu–NiO cấu trúc nano cho bước đầu ứng dụng phân hủy thuốc bảo vệ thực vật trong đất

Nguyễn Đăng Giáng Châu, Nguyễn Thị Anh Trâm, Huỳnh Thị Túy Ngọc, Trịnh Ngọc Băng Thanh, Nguyễn Thị Cẩm Diệu, Dương Tuấn Quang, Trương Thế Nhật Anh
Tóm tắt | PDF
Niken oxit (NiO) là một chất bán dẫn loại p có nhiều ứng dụng trong xúc tác, cảm biến và xử lý môi trường. Trong nghiên cứu này, vật liệu NiO biến tính Copper (Cu–NiO) đã được tổng hợp bằng phương pháp thủy nhiệt, sử dụng tiền chất Ni(NO₃)₂·6H₂O, Cu(NO₃)₂·3H₂O và Urea, sau đó nung ở 500 °C. Cấu trúc và đặc trưng vật liệu được khảo sát bằng XRD, SEM, TEM, FTIR, EDS. Kết quả cho thấy vật liệu Cu–NiO có cấu trúc lập phương tâm mặt của NiO với sự hiện diện đồng đều của nguyên tố Cu, hình thái cầu xốp được tạo thành từ các hạt nano kích thước nhỏ, thuận lợi cho quá trình xúc tác. Phổ FTIR xác nhận liên kết Ni–O đặc trưng và sự hiện diện của nhóm hydroxyl trên bề mặt. Vật liệu được thử nghiệm khả năng xúc tác quang phân hủy thuốc bảo vệ thực vật (HCBVTV) trong đất, thông qua quy trình xử lý mẫu theo QuEChERS kết hợp phân tích GC–MS. Kết quả bước đầu cho thấy Cu–NiO có hiệu quả phân hủy cao, hứa hẹn là vật liệu tiềm năng trong xử lý đất ô nhiễm HCBVTV.

Thành phần hóa học dễ bay hơi và hoạt tính ức chế enzyme acetylcholinesterase của cao chiết n-hexane từ quả tầm xuân (Rosa canina L.)

Lê Quốc Thắng, Nguyễn Thị Ngọc Hiếu, Trương Ngọc Phương Tâm, Võ Sao Mai, Hà Thị Kiều Oanh, Nguyễn Thị Hảo
Tóm tắt | PDF
Bài báo này công bố kết quả xác định thành phần hóa học dễ bay hơi và hoạt tính ức chế enzyme acetylcholinesterase của cao chiết n-hexane từ quả tầm xuân (Rosa canina L.). Trong nghiên cứu này, thành phần hóa học các chất dễ bay hơi trong cao chiết n-hexane từ vỏ quả của đối tượng nghiên cứu được xác định bằng phương pháp sắc ký khí khối phổ liên hợp (GC-MS) và hoạt tính ức chế enzyme acetylcholinesterase được thực hiện theo phương pháp của Ellman. Kết quả nghiên cứu cho thấy, thành phần dễ bay hơi trong cao chiết n-hexane chủ yếu là các hydrocacbon mạch hở và các carboxylic acid; cao chiết n-hexane từ vỏ quả tầm xuân thể hiện hoạt tính ức chế enzyme acetylcholinesterase yếu hơn so với chất đối chứng dương galantamine (IC50 = 1,95±0,11 µg/mL).

Một phương pháp tập hợp chùm thích nghi trên mạng chuyển mạch chùm quang

Nguyễn Hồng Quốc, Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Minh Quân, Nguyễn Thị Thùy Trang, Hồ Thị Kim Thoa
Tóm tắt | PDF
Tập hợp chùm là một hoạt động quan trọng trong mạng chuyển mạch chùm quang. Tham số chính trong tập hợp chùm là tiêu chuẩn cho việc quyết định tạo ra chùm và gửi chùm vào trong mạng. Có hai phương pháp tập hợp chùm cơ bản là dựa trên bộ đếm thời gian (timer-based) và dựa trên độ dài chùm (threshold-based). Trong phương pháp tập hợp chùm dựa bộ đếm thời gian, một chùm được sinh ra và được gửi vào trong mạng theo từng chu kỳ thời gian, đúng bằng thời gian đã được xác định mà không quan tâm đến kích thước chùm sinh ra dài hay ngắn. Chiều dài chùm sẽ biến đổi tuỳ theo tốc độ đến của gói, trong những khoảng thời gian bằng nhau. Đối với phương pháp tập hợp chùm dựa vào ngưỡng độ dài chùm, một giới hạn về số lượng gói tin tối đa chứa trong mỗi chùm hoặc về kích thước chùm tính theo bytes, trong trường hợp các gói tin đến có kích thước thay đổi, được sử dụng như là điều kiện để sinh ra chùm. Vì vậy, các chùm được tạo ra có kích thước bằng nhau. Vấn đề quan trọng được đặt ra là làm thế nào để chọn một giá trị ngưỡng tập hợp chùm tối ưu nhằm giảm số lượng các chùm bị mất khi có tranh chấp xảy ra, cũng như tăng hiệu suất sử dụng băng thông mạng OBS. Trong nghiên cứu này sẽ đề xuất một phương pháp tập hợp chùm thích nghi dựa trên tải lưu lượng đến của các gói tin tại các nút biên vào để quyết định một ngưỡng tập hợp chùm nhằm tăng hiệu suất hoạt động của mạng, cũng như giảm xác suất mất chùm trên toàn mạng.

Ảnh hưởng của điều kiện tổng hợp đến cấu trúc và hình thái vật liệu composite CoFe2O4/Chitosan

Đặng Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Thanh Ngọc, Đoàn Phát Huy, Nguyễn Hồng Khánh Linh, Lê Lộc Vương
Tóm tắt | PDF
Vật liệu composite đã và đang được nghiên cứu, phát triển mạnh mẽ với tiềm năng ứng dụng cao trong các lĩnh vực y sinh, hấp phụ và xử lí môi trường. Vật liệu composite cobalt ferrite/chitosan (CoFe2O4/CTS) được tổng hợp dưới dạng hạt cầu bằng phương pháp thủy nhiệt từ hỗn hợp muối Fe3+/Co2+ và chitosan. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp vật liệu bao gồm khối lượng chitosan, nồng độ dung dịch sodium hydroxide, tỉ lệ mol muối cobalt và iron, nhiệt độ thủy nhiệt và thời gian thủy nhiệt. Vật liệu CoFe2O4/CTS được đặc trưng bằng các phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD), hiển vi điện tử quét (SEM) và phân tích nhiệt trọng lượng (TGA). Kết quả cho thấy vật liệu CoFe2O4/CTS thu được với kích thước nano có độ tinh khiết cao, cấu trúc spinel đặc trưng, độ tinh thể và độ bền nhiệt cao

Nghiên cứu các tính chất phi cổ điển của trạng thái chồng chất hai mode kết hợp SU (1, 1)

Cao Thị Mỹ Hảo, Nguyễn Ngọc Bảo Nguyên, Đỗ Chính Hạp, Trương Minh Đức
Tóm tắt | PDF
Trong bài báo này, chúng tôi nghiên cứu các tính chất phi cổ điển của trạng thái chồng chất hai mode kết hợp SU (1, 1), đó là tính chất nén tổng hai mode, tính chất nén hiệu hai mode, tính chất phản kết chùm hai mode và tính chất đan rối. Kết quả khảo sát cho thấy trạng thái chồng chất hai mode kết hợp SU (1, 1) thể hiện tính chất nén tổng hai mode, tính chất phản kết chùm hai mode và tính đan rối nhưng không thể hiện tính chất nén hiệu hai mode. Mức độ thể hiện các tính chất phi cổ điển mạnh yếu của trạng thái phụ thuộc vào việc điều chỉnh các tham số phù hợp. Như vậy, trạng thái chồng chất hai mode kết hợp SU (1, 1) là một trạng thái phi cổ điển và các tính chất phi cổ điển của chúng được thể hiện tương đối rõ ràng